Có nhiều kiểu phân chia sách Tin Mừng thứ IV. Mỗi kiểu phân chia dựa trên vài điểm làm nền tảng. Khó có thể hướng về một kiểu nhất định, duy nhất. Vì thế, xin tạm đề nghị kiểu phân chia sau đây tương đối hợp lý hơn cả.
Kiểu phân chia này dựa vào các lễ phụng vụ Dothái (3 lễ vượt qua: 2,13; 6,4; 11,55 - một lễ không được xác định: 5,1 - lễ lều: 7,2 - lễ cung hiến đền thờ: 10,22) và cách phân chia cuộc đời Ðức Giêsu thành những giai đoạn rõ rệt (tuần lễ): (tuần lễ khai mạc: 1,19-2,11 - tuần lễ lều: 7,2.14.37 - tuần lễ thương khó: 12,1.12; 19,31.42, nằm giữa việc mai táng thực thụ: 19,38tt). Với những yếu tố vừa kể, có thể phân chia sách Tin Mừng thứ IV như sau:
II. SỨ VỤ CỦA ÐỨC GIÊSU (Chương 1,19-12,50)
1. Loan báo nhiệm cục
mới (1,19-12,50)
2. Lễ thứ II tại Giêrusalem (5,1-47)
3. Lễ vượt qua. Diễn từ về
bánh trường sinh (6,1-7,1)
4. Lễ lều (7,1-10,21)
5. Lễ cung hiến đền thờ (10,22-11,54)
6. Sứ vụ công khai của Ðức
Giêsu kết thúc (11,55-12,50)
III. GIỜ
CỦA ÐỨC GIÊSU
LỄ VƯỠT QUA CỦA CHIÊN THIÊN
CHÚA (Chương 13-20)
1. Bữa ăn cuối
cùng của Ðức Giêsu với
các môn đệ (13,1-17,26)
2. Cuộc Thương Khó (18,1-19,42)
3. Ngày Phục Sinh (20,1-29)
4. Kết luận thứ nhất (20,30-31)
Ga 20,31 làm nổi bật mục tiêu của sách Tin Mừng thứ IV: "Những điều đã được chép ở đây (trong sách này) là để anh em tin rằng Ðức Giêsu là Ðấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Người". Ðó là sách Tin Mừng đem tin vui cho những kẻ tin vào Ðức Giêsu là Ðấng Kitô, Con Thiên Chúa: ai tin vào Người thì được sự sống nhờ danh Người. Như các sách Tin Mừng Nhất Lãm, Gioan trình bày những nét chính yếu của lời rao giảng tiên khởi (Kerygma): ông Gioan Tẩy Giả làm chứng rằng Ðức Giêsu là Ðấng Mêsia nhờ Thánh Thần ngự xuống (1,31-34); Ðức Giêsu dùng việc làm và lời nói nhằm mặc khải Thiên Chúa và hoạt động cứu độ của Người (1,35-12,50); trình thuật về cuộc Thương Khó và Phục Sinh của Ðức Giêsu cũng như những cuộc hiện ra của Người (13,1-20,20); sứ mạng trao cho các Tông Ðồ (20,21). Nhưng sách Tin Mừng thứ IV có nhiều điểm khác biệt với các sách Tin Mừng Nhất Lãm: cấu trúc, niên đại, cách trình bày các phép lạ và lời nói của Ðức Giêsu, cách tường thuật cùng những sự kiện như các sách Tin Mừng Nhất Lãm... Sự khác biệt thiết yếu vẫn là cái nhìn về mầu nhiệm Ðức Kitô. Ðối với sách Tin Mừng thứ IV, Ðức Kitô không chỉ là Ðấng Mêsia đến trần gian nhằm làm ứng nghiệm những lời tiên báo của các ngôn sứ Cựu Ước và thiết lập Nước Trời (Mátthêu); Người cũng không chỉ là Ðấng Mêsia, Con Thiên Chúa (Máccô), hoặc là Vị Cứu Chúa đến công bố sứ điệp diễn tả lòng khoan dung của Người đối với nhân loại (Luca). Theo tác giả của Gioan, Ðức Giêsu chính là Con Thiên Chúa, là Ðấng Mêsia mang đến cho thế gian đức tin và sự sống đời đời (20,31).
Nói chung, Gioan cho độc giả cảm tưởng đó là cuốn sách có sự duy nhất. Nhưng khi đọc kỹ, độc giả sẽ nhận thấy những dấu vết của một tình trạng thiếu trật tự nào đó ít nhất bên ngoài: cuốn sách không tiến triển đều đặn; độc giả gặp những đoạn như nằm ngoài mạch văn:
* Ga 3,22-30 như làm đứt đoạn diễn từ của Ðức Giêsu nói với ông Nicôđêmô. Ðặt 3,31 ngay sau 3,21 thì hợp lý hơn.
* Ðáng lẽ ch.6 phải nằm giữa ch. 4 và ch. 5. Như thế lộ trình của Ðức Giêsu sẽ như sau: từ miền Giuđê, Người đến miền Galilê (4,54), sang bên kia biển hồ Galilê (6,1), rồi Người lên Giêrusalem (5,1) và trở về Galilê (7,1).
* Phải hơn Ga 10,19-21 nằm ngay sau 9,41, vì c. 20,21 có cùng chung một chủ đề với ch. 9. Ga 14,31 phải là câu kết của bài diễn từ cáo biệt. Như thế, các ch. 15 và 16 đáng lẽ phải ở nơi nào đó trước câu này.
* Ga 20,30-31 là đoạn kết của Gioan. Rõ ràng, Ga 21 là một phụ trương.
* Ga 7,53-8,11 không nằm trong mạch văn trước và sau. Theo văn thể và cách hành văn, đoạn này rất gần truyền thống Nhất Lãm, cách riêng Luca.
* Ga 5,3b-4: nhiều bản chép tay quan trọng bỏ những câu này. Ngày nay, các học giả thường công nhận: đó là lời chú nhằm cắt nghĩa c. 7 nói đến nước khuấy lên.
* Ga 12,44-50 nằm ở ngoài mạch văn.
Những điều dị thường kể ở trên xuất phát từ cách thức Gioan đã được soạn thảo và xuất bản: đó là tình trạng các vật liệu được dùng tăng dần theo thời gian, qua những lần xuất bản kế tiếp nhau. Công việc soạn thảo và xuất bản ấy đòi phải sửa chữa, thêm bớt... Trong tiến trình hình thành của Gioan, vài học giả nhận ra năm giai đoạn:
-- Giai đoạn I: Trước hết, có một tổng thể các vật liệu thuộc truyền khẩu liên quan đến lời nói, việc làm của Ðức Giêsu. Những vật liệu đó giống như các vật liệu đã cấu thành các sách Tin Mừng Nhất Lãm, nhưng phát xuất từ một nguồn khác.
-- Giai đoạn II: Trong một giai đoạn có lẽ đã kéo dài qua nhiều thập niên, những vật liệu ấy đã được tuyển chọn, suy đi nghĩ lại và uốn nắn thành những trình thuật riêng biệt và những diễn từ trong khi rao giảng và giáo huấn. Vào cuối giai đoạn thứ hai này, người ta bắt đầu ghi lại những vật liệu dùng trong công việc rao giảng và giáo huấn. Kiểu hành văn trong đoạn 7,53-8,11 hoặc ch. 21 chẳng hạn... không giống kiểu hành văn của những đoạn khác trong Gioan. Ðó là dấu vết của nhiều tác giả đã góp phần soạn thảo. Nhưng nói cách chung, phần lớn tác phẩm phát xuất từ một nguồn chính. Chắc nguồn chính đó phải là một môn phái thần học quy tụ chung quanh một vị tôn sư. Vị tôn sư này đóng vai trò chính yếu trong tiến trình hình thành của tác phẩm.
-- Giai đoạn III: Những vật liệu ghi lại đó được sử dụng để cấu thành một tác phẩm. Ðó là sách Tin Mừng trong lần xuất bản đầu tiên. Chắc vị tôn sư đã có sáng kiến thực hiện tác phẩm này. Và theo vài học giả, vị tôn sư đó chính là tác giả sách Tin Mừng. Tác phẩm này không gom lại tất cả các vật liệu do truyền thống Gioan cung cấp.
-- Giai đoạn IV: Rồi tác giả sách Tin Mừng cho xuất bản tác phẩm lần thứ hai. Có những đoạn hoặc phần mới lạ được ghép vào nhằm đáp ứng những nhu cầu mới hoặc giải đáp những vấn nạn do vài nhóm nêu lên: các môn đệ của ông Gioan Tẩy Giả, những tín hữu gốc Dothái...
-- Giai đoạn V: Sau hết, một (hoặc các) nhân vật gọi là "soạn giả", đồ đệ hay bạn thân của tác giả, đảm nhận công việc xuất bản tác phẩm lần thứ ba. Lần xuất bản này là thành quả của công việc đem vào tác phẩm thuộc giai đoạn IV những vật liệu thuộc truyền thống Gioan chưa nằm trong tác phẩm.
Như thế, sách Tin Mừng IV không chỉ có một tác giả duy nhất. Rất nhiều người đã đóng góp vào truyền thống Gioan: truyền khẩu, các đơn vị văn chương... Ngoài ra, còn có tác giả chính và soạn giả hoặc những soạn giả...
Nhưng tác giả chính là ai? Theo truyền thống, tông đồ Gioan, con ông Dêbêđê và em ông Giacôbê, đã viết sách Tin Mừng thứ IV. Cuối thế kỷ thứ II, vào năm 180, thánh Irênê (trong cuốn Adversus Haereses III,1,1) Quy điển của Muratori (165-185), ông Cơlêmentê thành Alêxanria (qua đời vào 211-216) đã quả quyết điều đó. Sách Tin Mừng thứ IV không ghi tên tác giả. Ga 21,20 nói đến "người môn đệ Ðức Giêsu thương mến". Theo 21,24, "chính môn đệ này làm chứng về những điều đó (= những sự kiện kể trong Gioan) và đã viết ra".
Người môn đệ ấy là ai? Trong bữa Tiệc Ly, người môn đệ ấy để đầu tựa vào lòng Ðức Giêsu (Ga 13,23). Ông đứng gần thập giá, khi Ðức Giêsu giao phó thân mẫu cho mình (Ga 19,26). Sáng sớm Chúa Nhật Phục Sinh, ông và ông Phêrô chạy ra mộ (Ga 20,2.3.4.8). Ở trên bãi biển hồ Tibêria, ông nhận ra Ðức Giêsu trước các môn đệ khác (Ga 21,7); ông là đối tượng của cuộc nói chuyện giữa Ðức Giêsu và ông Phêrô (Ga 21,20-23).
Chắc chắn "người môn đệ Ðức Giêsu thương mến" phải là một Tông Ðồ, vì dựa vào các sách Tin Mừng Nhất Lãm chúng ta thấy: chỉ có các Tông Ðồ mới có mặt trong bữa Tiệc Ly. Theo cách diễn tả của Gioan, người môn đệ đó thuộc nhóm ba môn đệ thân tín của Ðức Giêsu. Môn đệ đó không phải là ông Phêrô, vì ông Phêrô ở gần bên ông ấy mấy lần (Ga 13,23-24; 20,2-4.6.8-10; 21,20-23). Môn đệ đó cũng không phải là ông Giacôbê đã chịu tử đạo vào năm 44 (x. Cv 12,2), còn môn đệ đó thì lại sống khá lâu theo Ga 21,20-23. Như thế, có lẽ phải kết luận rằng môn đệ đó chính là Tông đồ Gioan.
Sách Tin Mừng thứ IV đã được soạn thảo tại miền Tiểu Á theo lời chứng của lời tựa chống Máckiôn, của thánh Giêrônimô và Êpiphan. Thánh Irênê nói rõ: tại Êphêxô. Nói chung, các học giả công nhận ý kiến này. Nhưng cũng có vài nhân vật như thánh Eprem, ông Tatianô... lại chủ trương: Antiôkhia, xứ Xyria, mới là nơi soạn thảo. Dĩ nhiên, thánh Gioan đã rao giảng tại Antiôkhia. Nhưng theo truyền thống, ngài đã qua giai đoạn sau cùng trong cuộc đời, một giai đoạn khá dài, tại Êphêxô. Có lẽ vì lý do đó, chung chung người ta đã chọn Êphêxô hơn là Antiôkhia. Bởi vì sách Tin Mừng thứ IV không phải chỉ có một tác giả duy nhất, nên chắc phải phân biệt như sau: 1) những phần của chính thánh Gioan đã được soạn thảo tại Êphêxô; 2) còn về các phần khác do (các) soạn giả và các môn đệ của thánh Gioan soạn thảo, thì khó mà xác định được là ở Êphêxô hoặc ở nơi khác.
Về năm soạn thảo, chúng ta chỉ có thể đưa ra một ý kiến có khả năng đúng. Sách Tin Mừng thứ IV được người ta cho biết đến từ tiền bán thế kỷ thứ II, vì đã được trích dẫn hay đã gây ảnh hưởng: thánh Giúttinô (Apologie 61,4) (vào năm 150); Hermas (Pasteur) (vào năm 140); thánh Pôlycáp (Thư gửi các tín hữu Philípphê) (vào năm 110); thánh Inhaxiô Antiôkhia (các thư) (vào năm 110); tác phẩm Odes de Salomon (tiền bán thế kỷ thứ II); sách viết trên giấy cói Rylands 457... Theo thánh Irênê và ông Cơlêmentê Alêxanria, có lẽ thánh Gioan đã sống đến thời hoàng đế Tragianô (98-117). Như thế, nếu trừ đi thời gian cần thiết để phổ biến sách Tin Mừng, chúng ta có thể nghĩ rằng một số phần thuộc sách Tin Mừng thứ IV đã được soạn thảo vào những năm cuối của thế kỷ thứ I.
Mỗi tác giả sách Tin Mừng có một cái nhìn độc đáo về mầu nhiệm Ðức Giêsu và sứ mạng của Người đối với nhân loại. Theo Gioan, Ðức Giêsu là Ngôi Lời tiên hữu trong Thiên Chúa (1,1.2) trở nên người phàm (1,14), vì được Chúa Cha sai xuống thế gian (3,17.34; 4,34; 5,36; 6,29; 7,28-29; 8,16.18.26.42; 10,36; 11,42; 17,3.25) để thực hiện một sứ mạng. Sau khi hoàn thành sứ mạng ấy, Người trở về cùng Chúa Cha (7,33; 13,3; 16,5; 17,11.13.23; 20,17). Ðó là mầu nhiệm nhập thể nhắm mục tiêu phục vụ Thiên Chúa là Ðấng muốn cứu độ thế gian. Ðạo lý của Gioan thiết yếu được rút từ Ga 20,31.
Trước hết, mục đích của Gioan là làm nổi bật mầu nhiệm Ðức Giêsu: Người là Con Thiên Chúa, là Ðấng Kitô (20,31a).
Ðối với Thiên Chúa, Ðức Giêsu là Con Một Thiên Chúa (1,14,18; 3,16-18), được Chúa Cha yêu mến (5,20; 15,9; 17,23-24.26), luôn hợp nhất, sống mật thiết và hành động chặt chẽ với Chúa Cha (10,30.38; 14,10-11.20; 17,21-23). Chúa Cha đã trao cho Người nhiệm vụ thực hiện công trình cứu độ (3,17). Vì thế, nỗi ưu tư khắc khoải của Ðức Giêsu, lẽ sống không thể thiếu thì giống như lương thực nuôi sống Ðức Giêsu, đó là "thi hành ý muốn" của Chúa Cha và "hoàn tất công trình của Người" (4,34).
Ðối với nhân loại, Ðức Giêsu là Ðấng Mêsia, Ðấng Kitô (1,41; 4,25-26), nghĩa là "Ðấng được Thiên Chúa tuyển chọn" (1,34), được Thiên Chúa sai đi thực hiện sứ vụ cứu thế (4,42) với tư cách ngôn sứ, tư tế và quân vương.
Ở trong cung lòng Chúa Cha, Ngôi Lời đã thấy, đã nghe tất cả những gì xảy ra trong Thiên Chúa (1,18; 3,11.32; 8,38). Vì thế, Ngôi Lời nhập thể là Chứng nhân có đủ tư cách nhất để diễn tả ý định cứu độ của Chúa Cha, chuyển đạt các lời và giáo huấn của Người (3,32.34; 6,46; 7,29; 8,26.28.38.40; 12,49.50; 14,24; 17,8.14). Ðức Giêsu tuyên bố: Người là: "ánh sáng cho thế gian" (1,4.7.9; 9,5; 12,46), ánh sáng ban ánh sáng cho người mù từ thủa mới sinh (9,6tt), cho những ai không muốn bước đi trong bóng tối (12,35)... Người là "con đường", bởi vì Người là "sự thật" (14,6): Người tỏ bày Chúa Cha (12,45; 14,9), Người dẫn tới Chúa Cha, cho biết Chúa Cha (1,18; 14,6-7); Người còn tỏ bày chính bản thân và sứ mạng của mình đối với nhân loại. Những hoạt động đó đều thuộc vai trò Ngôn Sứ thực hiện công việc mặc khải.
Gioan ít nhấn mạnh đến sứ mạng Tư Tế của Ðức Giêsu. Trong cả sách, chỉ có ch. 17 đề cập vấn đề này. Nói chung, Ga 17,1-26 được gọi là "Lời cầu nguyện của vị thượng tế". Khi "được giương cao lên khỏi mặt đất" (12,321), khi dâng hy lễ trên đồi Gôngôtha, với tư cách thượng tế của Giao Ước Mới, Ðức Giêsu đã cầu nguyện với Chúa Cha cho các môn đệ và tất cả những kẻ sẽ tin vào Người nhờ lời rao giảng của các ông. C. 19 ("Vì họ, con xin thánh hiến chính mình con") có nghĩa sau đây: Ðức Giêsu tự tách ra khỏi đám phàm nhân để thuộc trọn về Thiên Chúa, bằng việc hiến dâng chính mình làm lễ vật trong hy lễ Gôngôtha với tư cách thượng tế nhằm gây lợi ích cứu độ cho các môn đệ và tín hữu.
Ðức Giêsu là Ðấng Mêsia hoặc Kitô, vì Người có nhiệm vụ thi hành sứ mạng Quân Vương. Thi hành sứ mạng quân vương là thực hiện chủ quyền trên thiên nhiên, ma quỷ, bệnh tật, cái chết và tội lỗi, là trải qua cuộc Thương Khó để chiến thắng cái chết nơi mình và nơi nhân loại. Nhờ thế, Ðức Giêsu trở thành Ðấng hướng dẫn, cai trị, chăm sóc đoàn dân (Mục Tử, Quân Vương), Ðấng ban sự sống...
Gioan không sử dụng từ "phép lạ" ("téras", "térata"), nhưng dùng từ "dấu lạ" ("semeion", "semeia") để chỉ những việc lạ lùng, những kỳ công do Ðức Giêsu làm nhân danh Thiên Chúa (3,2) nhằm thúc giục những người chứng kiến tin rằng sứ mạng của mình phát xuất từ Thiên Chúa (2,11; 9,33; 11,40-42). Gioan thường sử dụng từ "dấu lạ" nói chung (2,23; 3,2; 7,31; 9,16; 11,47; 12,37; 20,30). Tác giả sách Tin Mừng thứ IV không hề nói đến tương quan giữa "dấu lạ" và sứ mạng tư tế. Chỉ một lần (6,14), độc giả nhận thấy có liên lạc giữa "dấu lạ" và sứ mạng ngôn sứ; lần khác (2,11), "dấu lạ" đầu tiên tại Cana được liên kết với vinh quang của Ðức Giêsu. Ngoài ra, ở ba nơi (4,54; 6,2; 12,18), Ðức Giêsu làm các "dấu lạ" có liên quan đến sức khỏe, đến sự sống của con người: Người cho người con trai sắp chết của một sĩ quan được lành bệnh (4,54); Người chữa lành những kẻ đau ốm (6,2); Người cho ông Ladarô được sống lại (11,1-44; 12,18). Ngoài chuyện làm các "dấu lạ" để phục hồi sức khỏe hay sự sống, Ðức Giêsu còn tỏ bày chủ quyền của Người trên thiên nhiên (2,11; 6,10-13.26), bệnh tật (4,46-54; 5,1tt; 6,2; 9,1tt) trên cái chết (11,17.23.5.43-44; 12,9.17), trên ma quỷ (1,5; 12,31; 14,30; 16,11) và tội lỗi (8,36)... Tất cả sứ mạng của Ðức Giêsu quy hướng về "giờ" của Người (2,4; 7,30; 8,20; 12,23.27; 13,1; 17,1), giờ Người bỏ thế gian để về với Chúa Cha (13,1), giờ Người được tôn vinh bên hữu Chúa Cha (12,23; 17,1). Lúc đó là lúc Người được tôn vinh bên hữu Chúa Cha (12,23; 17,1). Lúc đó là lúc Người "được giương cao lên" theo hai nghĩa: "được gương cao lên" thập giá (12,32-33; 8,28) và "được giương cao lên" trời (3,13.14). Nhờ thế, Ðức Giêsu trở thành vị Mục Tử nhân lành (10,11.14.16) biết chiên của mình (10,14.27), chăm sóc, hướng dẫn (10,4), bảo vệ đoàn chiên (10,29), ban sự sống dồi dào cho đoàn chiên (10,10), dẫn đưa những chiên khác về một ràn chiên duy nhất (10,16). Vai trò của Ðức Giêsu cũng là vai trò của vị Quân Vương (1,49; 12,1). Thiên Chúa đã giao mọi sự trong tay Người (3,35; 13,3); Người có quyền năng trên mọi phàm nhân (17,2); không ai có thể cướp khỏi tay Người những kẻ thuộc về Người (10,28). Trình thuật về biến cố Ðức Giêsu vào Giêrusalem cũng như trình thuật về cuộc Thương Khó làm nổi bật vai trò Quân Vương của Người (12,12-16 - 18,36.37; 19,13-15.19-22). Ðức Giêsu đã tiến vào thành Giêrusalem với tư cách là Vua Mêsia (12,13): đó là một cuộc khải hoàn làm cho lời ngôn sứ Dacaria nên ứng nghiệm (12,15; x. Dc 9,9-10). Trong trình thuật về cuộc Thương Khó, những lời nói (18,33.37; 19,14-15) và cách xử sự (19,13.19-22) của tổng trấn Philatô cũng như những kiểu chế giễu của bọn lính Rôma (19,2-3.5) và phản ứng thù nghịch của các thượng tế (19,15.21) là những cách nhắc đi nhắc lại cho độc giả tước hiệu Quân Vương và làm đậm nét tước hiệu này. Nước của Ðức Giêsu không phải là một nước trần gian như các nước khác; Người chẳng có thuộc hạ để bảo vệ bản thân (18,36). Quyền bính của Người thuộc lãnh vực thần linh của sự thật: Người đến làm chứng cho sự thật (18,37).
Với tư cách Con Thiên Chúa, Ðức Giêsu vẫn giữ nơi mình vinh quang mà Người vẫn có bên Chúa Cha trước khi thế giới được tạo thành (17,5). Nhưng trong cuộc sống trần gian của Người, vinh quang đó được che giấu đi: Người không cho vinh quang đó chiếu tỏa vào nhân tính của mình. Ðôi khi, Người hé mở vinh quang đó cho các Tông Ðồ và các khán thính giả, như trong sự kiện biến đổi hình dạng trên núi (có lẽ Ga 1,14 ám chỉ đến sự kiện đó cách kín đáo; x. Mt 17,1tt; Mc 9,2tt; Lc 9,28tt), trong các "dấu lạ" Người làm (2,11; 11,40; 12,28a). Vinh quang đó sẽ được tỏ bày cách trọn vẹn hơn trong biến cố Vượt Qua: vinh quang Phục Sinh là chính vinh quang đời đời (17,22.24) tỏa chiếu trong ngày Ðức Giêsu sống lại, nhưng đã bắt đầu từ lúc Người được giương cao lên thập giá (12,23.28b; 13,31-32; 17,1). Ðức Giêsu ban cho các tín hữu vinh quang Người đã nhận từ Chúa Cha (17,22). Người cũng sẽ cho họ được chiêm ngưỡng vinh quang của Người, khi họ được đoàn tụ với Người (17,24).
Gioan còn muốn đặt tương quan của Ðức Giêsu với sự sống: Ðức Giêsu là Ðấng ban sự sống. Thiên Chúa nắm chủ quyền tuyệt đối trên sự sống. Người đã trao cho Ðức Giêsu quyền làm chủ sự sống (5,21; 10,18; 17,2). Ðức Giêsu mang sự sống nơi mình (1,4; 5,26), Người là sự sống (11,25; 14,6). Vì thế, Người ban sự sống cho các tín hữu (5,21; 6,35.48.51.57.58.63; 10,18). Và phương tiện Người sử dụng để ban sự sống, ấy là ban lời của Người (6,68) và trở nên "bánh trường sinh" (6,35.48), bánh đem lại sự sống cho các tín hữu (6,57-58).
Phần II của mục "Ðạo lý" dựa trên Ga 20, 31b: "Còn những điều đã chép ở đây là... để anh em Tin mà Ðược Sự Sống nhờ danh Người".
Ðức Giêsu dùng các "dấu lạ" để khơi dậy đức tin nơi các khán giả 92,11.23; 4,45.53; 11,15.45.48). Lời rao giảng, giáo huấn của Ðức Giêsu cũng nhắm mục tiêu tạo điều kiện cho đức tin nảy sinh nơi tâm hồn các thính giả (2,22; 4,41.50; 17,8). Ga 19,35 cho thấy: đức tin nơi các độc giả của Gioan phải dựa vào lời chứng của "chứng nhân" là tác giả. Tông đồ Gioan nhìn vào ngôi mộ trống, thấy các di vật còn để trong đó, cũng đã tin (20,8). Nhưng cuối cùng, đức tin của con người đặt vào chính Ðức Giêsu: 1,7 (tin vào Ðức Giêsu là "ánh sáng"); 4,39.42; 5,24.38; 6,29.35.37.44.45.65.70; 7,31.38.39; 8,24.30; 9,35-38; 10,37-38.42; 11,25-26.27.45; 12,11.36.42.44.46; 13,19; 14,1.11.12; 17,20.
Theo Gioan, tin là đón tiếp Ðức Giêsu (1,12; 5,43), là nhận biết Chúa Cha và Ðức Giêsu (17,3), là đến với Ðức Giêsu (3,20-21; 5,40; 6,35.37.44.45; 7,37-38; 14,6), nhận ra Người là Ðấng Chúa Cha sai đến thế gian (5,24.38; 17,8.21.23.25).
Nhiều người đã từ khước Ðức Giêsu, không chịu đón nhận Người và lời của Người (3,32; 5,43; 6,36; 7,5; 8,45-46; 10,25-26; 12,37.48; 16,9). Họ không chịu tin như tông đồ Tôma đã không tin (20,25.27.29). Họ không tin, nên đã bị lên án rồi (3,18).
Ai tin thì không bị lên án (3,18). Người Kitô hữu "có sự sống" nơi mình, vì được ăn thịt và uống máu Ðức Giêsu (6,53), vì thuộc đoàn chiên của Người (10,10). Vì tin, nên tín hữu "có sự sống" hoặc "có sự sống đời đời" (3,15-16.36; 5,24.40; 6,40.47; 11,26; 20,31). "Sự sống đời đời" (3,15.16.36; 4,14; 5,24.39; 6,40.47.54.68; 10,28; 17,2-3; 20,31) là sự sống mới mà tín hữu lãnh nhận được trong thời cuối cùng như ân huệ do Ðấng Mêsia mang đến. "Có sự sống đời đời" nơi mình là được hiệp thông với Thiên Chúa, Nguồn sống, là lĩnh nhận từ Thiên Chúa sự sống của Người. Sự sống mới đó làm cho tín hữu chiến thắng được cái chết. Sự sống đời đời còn được hiểu theo nhãn quan sêmít và Thánh Kinh về sự biết (X. 17,2-3). Theo nhãn quan này, sự biết không chỉ là sự nhận thức trừu tượng nằm trong lãnh vực trí óc, nhưng phát xuất từ một kinh nghiệm sống và được tình thương thấm nhuần. Vì thế, "có sự sống đời đời" là hiểu biết Chúa Cha cách thực thụ và trọn vẹn, yêu mến Người và gắn bó sâu xa với Người; sự hiểu biết và lòng yêu mến này chỉ đạt được khi tín hữu hiểu biết và yêu mến Chúa Kitô. Ngay từ bây giờ, tín hữu đã lĩnh nhận sự sống mới ấy rồi (3,36; 5,24; 6,40.68).