Sách Khải Huyền gồm những thị kiến và mặc khải được diễn tả theo ngôn ngữ biểu tượng và đầy hình tượng. Các tín hữu xưa kia đã quen với Cựu Ước có thể hiểu dễ dàng. Còn đối với độc giả ngày nay, đó là một bí nhiệm. Dàn bài dưới đây giúp độc giả hiểu nội dung sách Khải Huyền.
NHẬP ÐỀ: Lời tựa (Chương 1,1-3)
THÂN ÐỀ: (Chương 1,4-22,15)
I. Thư gửi các Hội Thánh Tiểu Á (Chương 1,4-3,22)
- Lời mở đầu:
(Chương 1,4-8)
- Thị kiến mở đầu: (Chương
1,9-20)
- Các thư gửi cho các Hội Thánh
Tiểu Á: (Chương 2-3)
II. Các thị kiến:
1. Chuẩn bị ngày lớn lao của Thiên Chúa: (Chương 4-16)
* Thiên Chúa trao sách
niêm ấn cho Con Chiên: (Chương 4-5)
- Thị kiến cái ngai: (Chương 4)
- Con Chiên nhận sách niêm ấn: (Chương
5)
* Mở niêm ấn cuốn sách: (Chương
6,1-8,1)
- Mở bốn ấn đầu: (Chương
6,1-8)
- Mở ba ấn sau: (Chương 6,9-8,1)
* Bảy kèn: (Chương 8,2-11,19)
- Bốn kèn đầu: (Chương 8,2-13)
- Hai cái khốn: kèn năm và sáu:
(Chương 9)
- Cuốn sách nhỏ: (Chương 10)
- Ðo Ðền Thờ, hai chứng
nhân: (Chương 11,1-13)
- Kèn thứ bảy: cái khốn cuối
cùng: (Chương 11,14-19)
* Người Phụ Nữ và Con Rồng:
(Chương 12)
* Hai con thú: (Chương 13)
* Con Chiên và cuộc phán xét: (Chương
14,1-15,4)
* Bảy chén tai ương: (Chương 15,5-16,21)
2. Babylon bị trừng phạt: (Chương 17,1-19,10)
* Con Ðiếm: (Chương
17)
* Babylon bị sụp đổ: (Chương 18)
* Khải hoàn ca trên thiên quốc: (Chương
19,1-10)
3. Các dân ngoại bị tiêu diệt: (Chương 19,11-20,15)
4. Giêrusalem tương lai: (Chương 21,1-22,15)
* Lệnh truyền của Ðức
Giêsu: (Chương 22,16)
* Xin Ðức Giêsu ngự đến:
(Chương 22,17-21)
Ngoài thể văn luật pháp, lịch sử, ngôn sứ và khôn ngoan, người ta còn thấy xuất hiện trong văn chương Dothái một thể văn khác. Ðó là thể văn khải huyền.
Thể văn này phổ biến vào thế kỷ II trước CN và cho đến thế kỷ II CN.
Trong Kinh Thánh, văn chương khải huyền xuất hiện đặc biệt nơi Ðanien, Giôen. Tuy nhiên, Is 24-27; Dcr 9-11 và Êdêkien cũng đã được viết theo thể văn này.
Ta cũng gặp thể văn này trong Tin Mừng Nhất Lãm Mc 13; Mt 24,1-16; Lc 17,22-37; 21,5-33. Thánh Phaolô với 1Tx 4,15-17; 2Tx 2,1-12.
Ðặc biệt, cuốn sách cuối cùng của Tân Ước được viết theo lối văn chương này.
Từ "Khải Huyền" do từ Hylạp apocalypsis, có nghĩa là "vén màn" cho thấy điều bí mật che khuất bên trong.
Như vậy, thể văn khải huyền xuất hiện trong bối cảnh tôn giáo đang gặp thử thách, khó khăn. Ðể duy trì đức tin và niềm hy vọng cho dân Thiên Chúa, các tác giả khải huyền cố gắng vén tỏ bức màn đang che khuất cái thực tại, những điều bí ẩn đằng sau lịch sử; đồng thời các ông cũng cho thấy lịch sử có giới hạn. Tất cả đều sụp đổ vào thời cánh chung. Sự mặc khải này vừa bi quan đối với hiện tại, vừa lạc quan cho tương lai. Bi quan vì thế giới đang chịu quyền lực sự ác thống trị. Lạc quan vì, sau cùng, Thiên Chúa toàn thắng và Người sẽ tái tạo một thế giới mới tốt đẹp hơn.
Tất cả sách Khải Huyền đều nói đến cuộc chiến "một mất một còn" giữa Thiên Chúa và ma quỷ vào thời cánh chung. Chiến thắng sau cùng thuộc về Thiên Chúa. Các tác giả thường đưa ra hai thái cực đối lập; chẳng hạn, một bên là thế giới hiện tại, một bên là thế giới tương lai. Bên này là thời của kẻ gian ác; bên kia là tương lai của những kẻ được cứu độ. Một bên là ma quỷ thống trị, bên kia là vương quốc hân hoan, cứu độ, ân sủng của Thiên Chúa.
Tác giả sách khải huyền Dothái thương giấu tên, mượn danh một nhân vật có uy tín thời xa xưa. Còn tác giả sách Khải Huyền Tân Ước lại tự giới thiệu là ông Gioan. các biến cố được loan báo không phải còn lâu mới xảy ra, nhưng sắp xảy ra tức thời, đã gần bên 1,3; 3,11; 22,7.10.12.20.
Nhân vật quan trọng của biến cố nơi các sách khải huyền Dothái hay Cựu Ước là Ðấng Mêsia. Còn nơi Khải Huyền, chính Ðức Giêsu Kitô là nhân vật quan trọng của các thị kiến. Tất cả lịch sử xoay quanh Ðức Kitô 1,5; 2,21; 7,14; 12,5.11. Người nắm giữ vận mệnh thế giới và tập hợp những kẻ được tuyển chọn quanh ngai tòa Thiên Chúa.
Cách thức mặc khải thường là thị kiến. Người truyền đạt thông điệp là một thiên sứ hay một sứ giả của Thiên Chúa. Trong Khải Huyền, chính Ðức Kitô tỏ bày thông điệp cho ông Gioan.
Hình thức diễn tả trong Khải Huyền thường vay mượn những hình ảnh cổ truyền của Cựu Ước, các khải huyền Dothái, thần thoại hay chuyện dân gian ở miền Tiểu Á. Chẳng hạn vai trò của các thiên sứ 7,13; sách được niêm ấn 5,1; sách để nuốt 10,1-11; kèn 8,2; bát 15,8; chớp và sấm 4,5; 10,3; đại chiến vào thời thế mạt 19,11-22,10; Gốc và Magốc 20,8; tiệc cánh chung 19,17-18).
Hơn nữa hình ảnh của Khải Huyền có tính biểu tượng hơn là mô tả; dùng hình ảnh để diễn đạt một ý tưởng hơn là quan tâm đến sự hài hòa của sự vật, chẳng hạn gươm hai lưỡi 1,26; chiên có bảy sừng 5,6.
Những con số và màu sắc cũng chỉ có giá trị biểu tượng. Số 7 chỉ sự hoàn hảo; số 4 nói đến thế giới; số 12 áp dụng cho Ítraen; số 1000 nói lên thời gian lâu dài. Số ba rưỡi chỉ thời gian ngắn... Màu trắng diễn tả niềm vui, chiến thắng, màu đỏ thể hiện cảnh máu đổ...
Theo truyền thống, ngay từ cuối thế kỷ II, người ta đồng hóa tác giả Khải Huyền với tác giả Tin Mừng IV, tức là thánh Gioan tông đồ. Trong số đó có thánh Giúttinô, thánh Irênê, thánh Cơlêmentê Alêxanria, ông téctulianô và ông Ôrigiênê, thư quy Muratori.
Sang thế kỷ III, một số người không công nhận thánh Gioan là tác giả sách Khải Huyền, vì lạc giáo Môntanô dựa vào Khải Huyền để biện minh cho lập trường của họ.
Thế kỷ V, Hội Thánh Xyria, Paléttin, Capađốc không nhận sách Khải Huyền vào thư quy Kinh Thánh, vì cho rằng sách này không phải là công trình của các Tông Ðồ.
- Dựa vào chính sách Khải Huyền, tác giả tự nhận mình là Gioan 1,1.4.9; 22,8-9, là "anh em" của tín hữu 1,9; là ngôn sứ 1,2.20; 22,9. Nhưng không bao giờ ông tự giới thiệu là tông đồ 21,4; là Gioan con của ông Dêbêđê Mc 1,19. Ông được Ðức Giêsu mặc khải 1,1 sau khi xuất thần 1,10. Ông viết sách nầy khi đang bị cầm tù ở đảo Pátmô, vì giảng Tin Mừng 1,9. Ông không hề gợi lại một kỷ niệm nào về Ðức Giêsu như tác giả Tin Mừng thứ IV.
- Ðem đối chiếu sách Khải Huyền với Tin Mừng thứ IV, người ta nhận ra một số nét tương đồng về từ ngữ, bút pháp, quan điểm thần học. Tuy nhiên, những nét dị biệt giữa hai tác phẩm lại rất nhiều.
Do đó, ta không thể quyết đoán hai tác phẩm này của cùng một soạn giả. Nhưng ta có thể nói sách Khải Huyền chịu ảnh hưởng Tin Mừng thứ IV. Tác giả sách Khải Huyền có lẽ thuộc trường phái Gioan ở Êphêxô. Mượn danh Gioan, chứ không phải mạo danh, tác giả theo lối cổ điển thường mượn uy tín của một nhân vật được người đồng thời trọng vọng, để độc giả dễ chấp nhận tư tưởng và thông điệp của ông.
Tác giả viết cho các cộng đoàn Kitô hữu vào cuối thế kỷ I. Ðó là bảy Hội Thánh ở Tiểu Á thuộc tỉnh châu Á của đế quốc Rôma. Qua bảy Hội Thánh này, ông muốn gửi tới tất cả Hội Thánh đang sống cùng một hoàn cảnh như các Hội Thánh ở Tiểu Á. Lúc ấy, các tín hữu đang gặp thử thách, có nguy cơ cho đức tin. Nguy cơ vừa xuất phát từ bên trong Hội Thánh; vừa do bên ngoài đưa tới. bên trong có những kẻ gieo rắc tà thuyết làm lung lạc đức tin chân chính của anh em tín hữu 1-3. Bên ngoài các hoàng đế bách hại tín hữu, vì các tín hữu không chịu tôn thờ hoàng đế như chúa tể 13,12-18; 14,9-13.
Trước hoàn cảnh khó khăn như thế, tác giả viết sách Khải Huyền không phải tạo mối sợ hãi, nhưng trấn an và củng cố đức tin cho anh em tín hữu. tác giả cho thấy chính ma quỷ là căn nguyên gây nên nỗi khốn khổ, thử thách này 12,10.
Ông cho họ biết ông đồng cảnh ngộ với họ. Ông đã chứng kiến cuộc bách hại đẫm máu 2,3.9 và là nạn nhân đang bị cầm tù 1,10. Ông báo cho anh em tín hữu biết tai họa lớn lao đã bắt đầu 7,14; máu đổ ra 2,13; 7,14; nhưng những ngày sắp đến còn kinh khủng hơn nữa 2,10; 3,10. Một số tín hữu chán nản, thất vọng trước cơn bách hại, dường như muốn đầu hàng và trở nên nguội lạnh. Một số lo lắng thái quá đến độ mất kiên nhẫn 6,9-11. Vì thế, ông gửi cho họ thông điệp mà chính ông nhận trực tiếp từ lệnh truyền của Ðức Giêsu. Ông khuyên nhủ họ sống dũng cảm, củng cố đức tin, niềm cậy trông và lòng trung thành của họ với Ðức Kitô. Ông cho biết thời đau khổ đang được rút ngắn lại. Ðức Giêsu đang đến và trả công cho mỗi người 22,2. Phải quảng đại đi tới cái chết, vì đó là một đòi hỏi 13,9-10. Muốn chống lại tà thuyết và không tôn thờ hoàng đế, phải cậy trông vào Ðức Kitô, Ðấng chiến thắng ma quỷ và tội lỗi. Phần thưởng chỉ dành cho những ai trung kiên, bền chí.
Như vậy, các tín hữu hiểu được rằng chiến thắng của quyền lực sự ác chỉ là nhất thời, có tính giai đoạn. Chiến thắng của Ðức Kitô khổ nạn và phục sinh mới toàn diện và vĩnh viễn.
Cũng như khải huyền của Dothái giáo và Cựu Ước, sách Khải Huyền được biên soạn vào thời kỳ khốn quẫn. Chúng ta biết rằng ngay từ thời Nêrô (54-67) đã xảy ra cuộc cấm đạo và bách hại tín hữu. Vì thế, có người (thư quy Muratori, Công vụ Gioan, Téctulianô) cho rằng sách Khải Huyền được soạn tác trong bối cảnh này. Tuy nhiên, người khác lại cho rằng thời hoàng đế Ðômixianô mới là bối cảnh của sách Khải Huyền. Theo truyền thuyết, người ta tin rằng Nêrô sống lại. Quả thật, khi hoàng đế Ðômixianô cấm đạo gắt gao, bách hại tín hữu không nương tay, và nhất là chính thức lập lễ nghi tôn thờ hoàng đế, thì người ta nghĩ rằng hoàng đế Nêrô đã sống lại nơi ông. Ông buộc mọi công dân Rôma và những ai sống trong đế quốc Rôma đều phải bái lạy trước tượng hoàng đế.
Anh em tín hữu bất tuân lệnh ông. Họ không thể gọi bất cứ một thụ tạo nào bằng danh xưng "Chúa". Họ chỉ kêu cầu và tuyên xưng một Chúa duy nhất là Ðức Giêsu Kitô. Họ không chịu nhượng bộ vị hoàng đế phạm thượng và cao ngạo này. Thà bị giết, chứ họ không chối bỏ Ðức Giêsu.
Có người dựa vào Kh 17,9-11 nói về bảy vị vua mà cho rằng tác giả đã viết sách Khải Huyền vào thời Nêrô. Nếu tính từ thời hoàng đế Augúttô cho đến triều Nêrô là năm vua đã chết; hoàng đế Nêrô là vua đang sống; vua sắp đến là Vétpaxianô, không tính ba vua trong một năm. Nhưng lý chứng này không mạnh đủ, vì biến cố năm 70 Giêrusalem bị sụp đổ đã được nói trong Khải Huyền. Biến cố này có sau các đời vua ấy.
Chứng cứ cho giả thuyết sách được viết thời Ðômixianô mạnh hơn. Thánh Irênê là người đầu tiên đã cho Khải Huyền một niên hạn. Ngài viết: "Không lâu lắm, hầu như ở thời chúng ta thôi, vào cuối triều đại Ðômixianô". (Chống lạc giáo, V, 30,2). Như vậy là trước năm 96, vì hoàng đế mất năm 96.
Như vậy, ta có thể tạm kết luận như sau: sách Khải Huyền được biên soạn vào cuối đời hoàng đế Nêrô. Sách được bổ sung và hoàn chỉnh, như ta có hiện nay, vào thời hoàng đế Ðômixianô.
Sách được biên soạn để phản ánh tình hình Kitô giáo cuối thế kỷ I. Ông Gioan dùng thể văn khải huyền để bày tỏ bí mật giấu kín về tương lai. Ông muốn cho thấy ý nghĩa đích thực về những sự kiện đang xảy ra mà chỉ một mình Thiên Chúa biết. Nói về thực tại bằng thứ ngôn ngữ diệu kỳ, để tránh nhà cầm quyền dòm ngó: đó là điều tác giả muốn.
Trước hết, Hội Thánh là một cộng đoàn được Thiên Chúa yêu thương và tuyển chọn thay thế Ítraen. Hội Thánh là dân mới của Thiên Chúa, đã được Ðức Kitô cứu chuộc bằng giá máu của Người 1,5. Dân mới này thuộc về mọi chi tộc, ngôn ngữ, mọi nước mọi dân 5,9. Các mối tương quan giữa Thiên Chúa và Ítraen giờ đây chuyển nhượng cho Hội Thánh 7,3-4.9-15. Hội Thánh là vương quốc Thiên Chúa, là dân tư tế của Người 1,6; 5,10; 7,15; 20,4-6. Hội Thánh trung thành với Ðức Kitô, nên trở thành Hiền Thê của Người 19,7-9.
Xưa kia Ítraen dựa trên mười hai chi tộc con cái Giacóp. Nay Hội Thánh được xây dựng trên nền tảng các Tông Ðồ 21,14. Ðối với Ítraen, Ðền Thờ là trung tâm thờ phượng Thiên Chúa. Ðền Thờ được xây bằng những đá quý theo như lệnh Ðức Chúa đã truyền cho ông Môsê, x. Xuất Hành. Còn đối với Hội Thánh, Ðền Thờ là chính Thiên Chúa và Con Chiên 21,22-23. Lễ tế dâng tiến Thiên Chúa không phải là chiên bò, hương liệu, bánh tiến, mà là chính Con Chiên 5,9 - hoặc là chính các tín hữu tử đạo. Không phải chỉ có dân Ítraen lên Ðền Thờ, nhưng "người muôn nước sẽ về phủ phục trước Tôn Nhan" 15,4, "các dân ngoại sẽ tiến bước theo ánh sáng của thành, đem báu vật và sự giàu sang tới đó" 21,23-24. Trong Ðền Thờ mới, "Hòm Bia Giao Ước sẽ xuất hiện" 11,19. Xưa kia, dân Ítraen lên Ðền Thờ mong muốn gặp thấy Thánh Nhan, nhưng chẳng được thấy, vì bức màn ngăn cản tầm nhìn của họ. Nay dân mới được gặp Thánh Nhan. Họ ca tụng Thiên Chúa, chiêm ngưỡng Thánh Nhan trong ánh sáng vinh quang Người, và được cai trị đời đời với Con Chiên, 22,4-5.
Tuy nhiên, Hội Thánh ý thức chiều kích trần thế của mình. Hội Thánh lữ hành chờ đón vị Tân Lang 21,2. Trong khi đó, Hội Thánh luôn có những tội nhân, và Hội Thánh là của tội nhân. Ðây là thời kỳ thanh tẩy tội lỗi để gặp Ðức Lang Quân, phải thanh tẩy trong máu Con Chiên 7,14.
Trên đường lữ hành, Hội Thánh chiến đấu bảo vệ lòng trung tín của mình. Ðứng trước cạm bẫy của ma quỷ, hay sức tấn công bách hại của các hoàng đế Rôma, Hội Thánh kiên nhẫn 1,9; 2,2-3; 3,10-11; 13,10; 14,12 chờ đợi ngày lãnh phần thưởng. Phần thưởng ấy chính là cử hành hôn lễ trong tiệc cưới Con Chiên, Hội Thánh sẽ lộng lẫy trong trang phục ngày hôn lễ trên thiên quốc. Lúc đó, Hội Thánh sẽ được ngự trên ngai của Con Chiên 3,21.
Ðức Giêsu đến trần gian làm chứng cho nhân loại về Thiên Chúa, để nhân loại nhận biết Thiên Chúa. Người truyền đạt những gì Người nhận lãnh nơi Chúa Cha 1,5; 3,14; 19,11; x. Tv 89,38; Is 55,4; Ga 18,37; 1Tm 6,13. Người làm chứng, vì Người đến từ Chúa Cha. Chứng của Người là chứng thật 19,11. Người trung thành làm chứng đến độ phải chết 1,5; 5,6. Như vậy, giá cao nhất phải trả cho việc làm chứng là chết. Ðức Giêsu chết vừa để làm chứng Người từ Thiên Chúa, vừa để ban ơn cứu độ cho nhân loại.
Ðến lượt mình, Hội Thánh là chứng nhân của Ðức Kitô. Sống giữa thế giới không công nhận Thiên Chúa, Hội Thánh chứng tỏ Thiên Chúa cho thế giới khi Hội Thánh trung thành tuân giữ các điều răn của Thiên Chúa và lời chứng của Ðức Giêsu 12,17. Hội Thánh thi hành sứ mệnh ngôn sứ 11,3-6; 19,10; 22,9. Khi làm chứng cho Tin Mừng, tất nhiên Hội Thánh được chung số phận với Ðức Kitô 6,5; 7,14; 11,7-10; 12,2-4.11; 16,6; 18,24; 20,4-6. Hội Thánh chịu sát tế để làm chứng, đứng dưới chân bàn thờ dâng lễ toàn thiêu 7,9-11. Cho dù không bị bách hại, Hội Thánh vẫn giữ lòng trung thành với Ðức Giêsu 1,3; 2,10.13.26; 3,8; 14,12; 22,77.9. Như vậy, chứng nhân không phải chỉ là tử đạo, nạn nhân của các cuộc bách hại, nhưng còn là người trung thành với Con Chiên.
Ðọc các thư gửi cho bảy Hội Thánh ở Tiểu Á, chúng ta thấy cuối các thư đều nói đến lời hứa ban thưởng cho người chiến thắng, và cho những ai hoàn tất các điều Ðức Giêsu đã truyền 2,26. Phần thưởng ấy là được ăn quả cây sự sống trồng ở trên thiên đàng 2,7; không hề bị cái chết thứ hai làm hại 2,11. Người chiến thắng được tham dự vào sự sống của Ðức Kitô phục sinh 2,17. Ngày ấy họ được mặc áo trắng và được ghi tên vào Sổ Trường Sinh 3,5; trở thành công dân của Giêrusalem mới trên trời 3,12; được ngự trên ngai của Con Chiên 3,21; được tháp tùng Con Chiên 14,1-5. Họ được hiển trị với Ðức Kitô một ngàn năm 20,4; được an nghỉ như Ðức Kitô đã hứa 14,13. Họ chiến thắng Con Thú 15,2-4, nên được dự tiệc Con Chiên 19,9.
Nhiều người đọc sách Khải Huyền để tìm câu giải đáp cho vấn nạn "bao giờ tận thế?", "tận thế sẽ ra sao?". Dựa vào những con số, hoặc những hình ảnh kỳ quái trong Khải Huyền, người ta giải thích hoặc đề xuất "dự báo thời tiết" cho ngày cánh chung. Thật ra, sách Khải Huyền không phải là sách bói toán, nhưng là Sách Thánh, trình bày giáo lý về ngày cánh chung, giúp anh em tín hữu đang gặp thử thách được vững tin. Những cuộc bách hại đẫm máu không phải là dấu hiệu chỉ dẫn về chiến thắng cuối cùng của Xatan.
Ðức Giêsu đã chiến thắng ma quỷ và thế gian. Nên người tín hữu phải hiên ngang dấn bước, vì phần thưởng đang chờ họ ở cuối hành trình trần thế. Ma quỷ đã thất bại, nhưng cố gắng dùng tàn lực cuối cùng, không phải để quật ngã Ðức Kitô, mà quật ngã những ai đi theo Ðức Kitô, trung thành với giáo huấn của Người. Thế gian vẫn chống đối Hội Thánh. Ðằng sau và bên trong Hội Thánh, vì Người là Anpha và Ômêga 21,6; 22,13. Người còn làm chủ lịch sử và vận mạng của nhân loại. Người biến đổi vũ trụ này thành trời mới đất mới 21,1 và sẽ lau sạch mọi giọt lệ trên khóe mắt loài người 21,4. Mọi sự ác, kể cả sự chết, đều bị tiêu diệt. Ðó chính là lúc cử hành hôn lễ mới giữa Thiên Chúa với dân mới của Người. Người sẽ ngự trị giữa dân.
Thiên Chúa cho mọi kẻ chết sống lại để phán xét các việc họ đã làm 20,11-15. Trước đó, các dân nước thù nghịch tung ra cuộc chiến toàn diện và cuối cùng chống lại Hội Thánh 19,17-21; 20,7-10. Tất cả kẻ thù nghịch với Thiên Chúa, kể cả Xatan, đều bị thất bại hoàn toàn. Ðó là viễn tượng cánh chung theo sách Khải Huyền. Tuy nhiên, chúng ta không thể giải thích bản văn theo nghĩa đen. Trong Cựu Ước, các ngôn sứ đã từng loan báo "Ngày của Thiên Chúa". Trong Tin Mừng, Ðức Giêsu cũng loan báo ngày tận cùng của thế giới. Do đó, theo văn mạch, những lời loan báo các hiện tượng vũ trụ thay đổi, các biến cố xảy ra, chỉ là thể văn khải huyền.
Sách Khải Huyền cho chúng ta biết được rằng lịch sử nhân loại có giới hạn. Lịch sử đang đi tới cùng đích. Giờ đây lịch sử ấy đã được cứu chuộc, Con Chiên bị sát tế mang lại chiến thắng cho những kẻ tin vào Thiên Chúa. Ðối với chúng ta, chiến thắng ấy chưa hoàn tất vì Xatan vẫn còn tấn công. Chúng ta chỉ chiến thắng hoàn toàn vào ngày cánh chung. Ðức Kitô chiến thắng thế gian - hiểu theo nghĩa của Tin Mừng Gioan. Nhưng thế gian vẫn tồn tại và vẫn còn là thù địch của Hội thánh. Chúng ta còn phải chờ đợi tiếng kèn thứ bảy vang lên. Lúc ấy, Ðức Kitô giáng lâm để chấm dứt lịch sử nhân loại, hoàn thành ơn cứu độ. Người cho kẻ chết sống lại và phán xét các dân nước 11,15-19.
Bao giờ ngày đó xảy ra? Chẳng ai biết, kể cả Người Con Mc 13,32. Người tín hữu không sợ hãi, cũng chẳng coi thường ngày ấy. Trời mới đất mới đã khai mở cho người tín hữu. Chính Ðức Kitô phục sinh đã khai mạc kỷ nguyên mới, lịch sử mới. Chúng ta đang sống trong thời cách chung theo một nghĩa rộng: Ðức Kitô vinh hiển đang ngự giữa Hội Thánh, Người thực sự chiến thắng tội lỗi, ma quỷ và sự chết. Khi từ cõi chết chỗi dậy, Ðức Kitô đã đạp vùi sự chết để đi lên. Giờ đây, Người làm chủ tuyệt đối lịch sử nhân loại. Cuộc chiến thắng, đối với Người, là chung cuộc, không thể đảo ngược được nữa. Riêng chúng ta, chờ ngày Ðức Kitô quang lâm, không phải vào ngày tận thế, mà chính là ngày chúng ta sinh lại trên trời, tức là ngày lìa cõi thế. Lúc ấy chúng ta hoàn toàn được đổi mới.