Tin Mừng
theo Thánh Matthêu

Theo bản dịch của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ

Prepared for internet by Vietnamese Missionaries in Taiwan


DẪN NHẬP
TIN MỪNG THEO THÁNH MÁTTHÊU

DÀN BÀI MÁTTHÊU

Ai cũng nhận rằng Mátthêu được xếp đặt rất có hệ thống và mạch lạc. Trước tiên, chủ đề chung là "Nước Trời" được trình bày thành năm bài giảng, phân biệt dễ dàng bằng một công thức chung đặt ở cuối mỗi bài. "Khi Ðức Giêsu giảng dạy những điều ấy xong..." kết thúc bốn bài đầu (7,28; 11,1; 13,53; 19,1) và bài cuối cùng: "Khi Ðức Giêsu giảng dạy tất cả những điều ấy xong..." (26,1). Mỗi bài giảng như thế lại được minh họa bằng một phần kể truyện. Người ta phối hợp hai phần kể truyện và bài giảng bằng hai cách, tùy theo xếp yếu tố nào đi trước.

Cách đơn giản hơn là cho phần kể truyện đi trước. Theo cách này, nếu kể cả trình thuật về thời thơ ấu (ch. 1-2) và về cuộc Thương Khó và Phục Sinh (ch. 26-28) chúng ta có nội dung Tin Mừng phân chia thành bảy phần như sau:

Cách thứ hai, đặt phần kể truyện sau bài giảng, phức tạp hóa hơn đôi chút, nhưng cũng rất đáng chú ý:

Lời tựa: Mầu nhiệm Chúa Giêsu (chương 1-2)

Phần I: Chúa Giêsu công bố Nước Thiên Chúa và chuẩn bị Giáo Hội (chương 3,1-16,12)

Tiết mục "bản lề": Từ Cựu Ước đến Tân Ước (chương 3-4)
1. Nước Thiên Chúa đã đến: (chương 5-9)
*Bài giảng trên núi (chương 5-7)
* Mười phép lạ (chương 8-9)
2. Chúa sai các môn đệ đi giảng và Người giảng Nước Trời (chương 10-12)
* Bài giảng truyền giáo (chương 10)
* Chúa đi giảng (chương 11-12)
3. Sự lựa chọn trước lời giảng về Nước Trời (chương 13,1-16,12)
* Bài giảng bằng dụ ngôn (chương 13,1-52)
* Hướng về việc tuyên xưng ở Xêdarê (chương 13,53-16,12)

Phần II: Cộng đoàn trong Nước Trời (chương 13,1-16,12)

Tiết mục "bản lề": Cộng đoàn tuyên xưng Chúa mình (chương 16,13-17,27)
4. Từ dân Dothái, Nước Trời chuyển qua Giáo Hội (chương 18-23)
* Bài giảng về đời sống cộng đoàn (chương 18)
* Từ Galilê lên Giêrusalem (chương 19-23)
5. Khai mạc Nước Trời trong mầu nhiệm Vượt Qua (chương 24-28)
* Loan báo Nước Trời vĩnh viễn đến trong Chúa Giêsu (chương 24-25)
* Mầu nhiệm Vượt Qua khai mở Nước Thiên Chúa (chương 26-28)

TÁC GIẢ

Trong Tân Ước có bốn bản danh sách Mười Hai Tông Ðồ; tất cả bốn đều mang tên Mátthêu. Tin Mừng thứ nhất xác định rõ Mátthêu là một "người thu thuế" (Mt 10,3 so với Mc 3,18; Lc 6,15; Cv 1,13) được Chúa gọi đi theo Người, khi ông "đang ngồi ở trạm thu thuế" (Mt 9,9). Thánh Máccô (2,14) và thánh Luca (5,27) cũng kể một câu chuyện tương tự, nhưng lại nói người thu thuế ấy mang tên Lêvi. Như vậy, Mátthêu người thu thuế cũng có tên là Lêvi. Rất có thể tên khai sanh là Lêvi, còn Mátthêu là biệt danh Chúa Giêsu đặt cho ông khi ông đi theo Chúa. Ðiều đáng để ý ở đây là hai tác giả Máccô và Luca đã tỏ ra tế nhị với vị Tông Ðồ từng là người thu thuế, nên đã kể lại câu chuyện trên dưới tên Lêvi, có lẽ lúc bấy giờ trong các giáo đoàn ít ai biết tới. Mặt khác, tác giả Tin Mừng thứ nhất đã kể rõ Mátthêu là người thu thuế như vậy, lại tránh không nói đến việc chính Mátthêu đã khoản đãi Chúa Giêsu và các anh em một bữa tiệc thịnh soạn (x. Luca). Tất cả những điều vừa ghi nhận về chuyện Chúa gọi người thu thuế, vẫn được coi là dấu chỉ rằng chính thánh Tông Ðồ Mátthêu là tác giả sách Tin mừng vẫn mang tên ngài.

Quả vậy, ngay từ những thế kỷ đầu của Kitô giáo, truyền thống vẫn nhất mực coi thánh Mátthêu là tác giả của Tin Mừng thứ nhất. Chứng từ trực tiếp và cũng cựu trào nhất là lời Giám Mục Papiát (Hiêrapôli, quãng năm 110-120), do sử gia Êusêbiô ghi lại. Theo sử gia này, thì Giám Mục Papiát viết: "Ông Mátthêu đã xếp đặt theo thứ tự bằng tiếng Híppri, những lời (Chúa) nói, và mỗi người tùy khả năng của mình mà phiên dịch (hoặc giải thích)". Theo các nhà bình luận nhận xét, thì "Những lời (Chúa) nói" không chỉ hiểu về giáo huấn của Chúa, mà về cả sự nghiệp của Người nữa. Tóm lại, là về một cuốn Tin Mừng trọn vẹn từ khi Chúa chịu phép rửa cho đến Phục Sinh. Giám Mục Papiát nói thánh Mátthêu viết bằng tiếng Híppri, thì phải hiểu là tiếng Aram người Dothái dùng thời ấy, chứ không phải Híppri cổ điển của Cựu Ước.

Tiếc rằng tác phẩm bằng Aram đó đã thất truyền rất sớm, một phần vì tình trạng rối ren ở vùng Xyria Paléttin vào những thập niên cuối của thế kỷ thứ nhất, trước và sau biến cố năm 70; phần khác cũng vì bản Mátthêu Hylạp được phổ biến mau lẹ tại các giáo đoàn.

Thật ra thì Giáo Hội chỉ nhìn nhận tác phẩm Hylạp này như là chính lục. Ai là tác giả bản Mátthêu Hylạp này? Dựa vào chứng từ của Giám Mục Papiát người ta phỏng đoán rằng ngay từ khi tác phẩm Aram mới ra, đã có nhiều bản dịch ra Hylạp khác nhau, trong đó có bản chính lục ngày nay. Nói cho cùng thì lời Giám Mục Papiát có thể chỉ hiểu về những bản giải thích hoặc dịch miệng. Căn cứ vào nội dung của bản Hylạp hiện nay, có người cho rằng so với Mátthêu Aram, thì bản Mátthêu chính lục là một sáng tác mới, chứ không phải một bản dịch. Dầu sao thì ai cũng phải nhận Tin Mừng thứ nhất mang mầu sắc Dothái hay Sêmít rất rõ; người thực hiện bản này phải là một người Dothái sống ở Ðất Thánh hay trong vùng Xyria.

Theo kết quả nghiên cứu hiện nay của việc phân tích văn chương và những đặc điểm có màu sắc Dothái trong nội dung Mátthêu, người ta đồng ý kết luận rằng sách Tin Mừng này dựa trên những tài liệu gốc Aram. Nhưng các nhà nghiên cứu không nhất trí với nhau về việc coi bản văn Mátthêu Hylạp là bản dịch của Mátthêu Aram hay là một công trình biên soạn dựa trên tài liệu gốc Aram. Do đó truyền thống coi thánh Mátthêu là tác giả sách Tin Mừng này vẫn chưa bị bác bỏ.

ÐỘC GIẢ

Nguyên việc thánh Mátthêu viết bằng tiếng Aram cũng là bằng chứng rõ ràng là ngài viết cho các độc giả Dothái sống ở vùng Xyria Paléttin. Một đàng các chứng từ cổ xưa nhất quả quyết điều đó. Mặt khác việc phân tách nội dung Tin Mừng cũng cho thấy như vậy: điểm tiêu biểu nhất của Tin Mừng này là sử dụng Cựu Ước rất dồi dào. Ít nhất cũng có tới 130 chổ trực tiếp đưa về Sách Thánh, trong đó có 43 chỗ trích sát. Tác giả trích theo kiểu Dothái. Có những điều liên quan tới thói quen, phong tục, nghi thức v.v... chỉ độc giả Dothái mới hiểu dễ dàng.

Cụ thể hơn nữa, có lẽ thánh Mátthêu viết Tin Mừng trước tiên nhắm vào các cộng đoàn Kitô giao từ Dothái giáo trở lại; đồng thời cũng nghĩ đến đồng bào Dothái của ngài nói chung để giúp họ nhận ra Chúa Giêsu là Ðấng Mêsia mà dân tộc từng trông mong. Những lời Chúa khiển trách dân Dothái cứng lòng, nhất là lên án các tật xấu của nhóm Pharisêu và các kinh sư được tác giả nhấn mạnh đặc biệt.

Rất có thể là bản Mátthêu Hylạp dù là được biên soạn trực tiếp bằng tiếng Hylạp, chứ không phải là một bản dịch, thì cũng đã được soạn ra trước hết cho các cộng đoàn Kitô giáo gốc Dothái sống ngoài đất thánh. Bởi vì trong bản này tác giả thấy không cần giải thích những thói quen của người Dothái. Vì Hylạp là tiếng phổ thông trong đế quốc Rôma thời ấy, nên Mátthêu Hylạp chẳng mấy chốc được phổ biến khắp nơi.

THỜI GIAN VÀ NƠI BIÊN SOẠN

Việc phân tích bản văn cũng như các dữ kiện truyền thống cung cấp không giúp xác định rõ được thời gian ra đời của Mátthêu. Vì thế chỉ có thể phỏng định mà thôi. Về bản Aram, có người cho rằng nó có thể ra đời quãng từ năm 40 tới 50 rồi, nghĩa là sau một thời gian dành cho sự phát triển của truyền khẩu. Ðàng khác hai thư thánh Phaolô viết cho giáo đoàn Thêxalônica quãng năm 52; nếu các thư này thật sự đã dựa vào diễn từ chung luận của Chúa Giêsu trong Tin Mừng thứ nhất, thì Tin Mừng này phải có trước rồi. Hơn nữa, theo thánh Irênê, tác phẩm nguyên thủy của thánh Mátthêu được soạn ra "khi Phêrô và Phaolô rao giảng Tin Mừng và thiết lập Giáo Hội ở Rôma". Mặc dù không thể căn cứ vào lời này để ấn định thời gian được, nhưng chúng ta cũng đoán được rằng Mátthêu Aram phải ra đời khá sớm.

Về Mátthêu Hylạp cũng vậy, không nói chính xác được. Vào cuối thế kỷ thứ nhất Tin Mừng này đã được phổ biến khá rộng rãi. Có người nghĩ rằng bản chính lục này được thực hiện trước năm 70. Nhưng ý kiến chung bây giờ là Tin Mừng Mátthêu chính lục được soạn vào những năm từ 80 đến 90 tại Xyria Paléttin. Ý kiến này dựa vào những yếu tố phản ánh sự chống đối quyết liệt giữa Hội Thánh Kitô giáo và cộng đồng Dothái giáo sau khi Giêrusalem bị tàn phá, nhất là trong bài giảng trên núi và trong trình thuật về Chúa Phục Sinh. Giới lãnh đạo Dothái quy tụ ở Giamnia (Giápnê) sau năm 70 đã "tuyệt thông" với Kitô giáo.

MỤC ÐÍCH

Tin Mừng Mátthêu trước tiên là một Tin Mừng có nhiều tính thần học hơn là lịch sử. Khía cạnh hộ giáo, chống Dothái cũng có, nhưng không phải là chính yếu như một số người nghĩ. Ðiều mà tác giả nhắm là trình bày con người Ðức Giêsu và sự nghiệp của Người: Ðức Giêsu là Ðấng Mêsia đích thực như Thiên Chúa đã phán hứa và loan báo trước trong Cựu Ước. Người đến trần gian để rao giảng và thiết lập Nước Thiên Chúa, Nước Thiên Chúa thể hiện trong cộng đoàn Giáo Hội. Hơn nữa Mátthêu còn muốn cho thấy, qua sự nghiệp đó, Ðức Giêsu đã dần dần chứng tỏ mình là Con Thiên Chúa như thế nào. Ðiển hình là lời Người tuyên bố trước Thượng Hội Ðồng Dothái (26,64) và, ở cuối Tin Mừng, lệnh Chúa sai môn đệ ra đi tiếp tục sứ mệnh của Người (28,18-20).

ÐẠO LÝ

1. Ðức Giêsu là Ðấng Mêsia Cựu Ước đã loan báo

Tin Mừng mở đầu bằng gia phả của Chúa, khởi đầu là ông Ápraham, trung tâm là vua Ðavít (1,1-16). Rải rác trong tác phẩm, Chúa Giêsu xuất hiện như là con vua Ðavít (9,27; 12,23; 15,22; 20,30.32; 21,9.15) mặc dầu chính Người rất dè dặt về tước hiệu này, vì quần chúng hay quan niệm lệch lạc.

Như đã nói, Mátthêu sử dụng dồi dào Thánh Kinh Cựu Ước, dồi dào hơn các Tin Mừng khác, để dẫn chứng, cách riêng đối với người Dothái vẫn chờ đợi Ðấng Mêsia, rằng mọi sấm ngôn của Cựu Ước đều ứng nghiệm nơi Ðức Giêsu người Nadarét. Do đó, chúng ta thường gặp những công thức quen thuộc, như "để ứng nghiệm điều Thiên Chúa đã dùng vị ngôn sứ mà phán" hoặc như thế là ứng nghiệm".

Một trong những nét đặc trưng của Mátthêu về Kitô học, đó là hình ảnh Môsê mới: Chúa Giêsu chính là vị ngôn sứ cao cả Thiên Chúa hứa từ thời Xuất Hành (Ðnl 18,18). Phân phối Tin Mừng thành năm phần, sau khi đã giới thiệu thời thơ ấu của Chúa qua năm sự việc, tác giả Mátthêu đã muốn đưa người đọc về ý tưởng Chúa Giêsu là Ðấng sáng lập Giao Ước mới, điều chỉnh và kiện toàn Luật cũ (x. 5,17-48).

Trình thuật về thời thơ ấu của Chúa Giêsu gợi lên những trình thuật và truyền thuyết về Môsê, năm phần gợi lên bộ Ngũ Thư và đặc biệt năm diễn từ của Môsê trong sách Ðệ Nhị Luật. Ngoài ra trong các biến cố đáng chú ý hơn của cuộc đời Chúa Giêsu, như khi Chúa chịu cám dỗ, khi khai mạc Nước trời trên núi, lúc hiển dung, khi hóa bánh ra nhiều trong sa mạc, lúc sai các Tông Ðồ đi khắp thế giới..., Mátthêu đều gợi cho độc giả nhận ra Chúa Giêsu là Môsê của Tân Ước.

2. Ðức Giêsu là Con Thiên Chúa

Chính Chúa Cha đã mạc khải Người một cách long trọng tại sông Giođan (3,17) và trong cuộc Hiển dung (17,5). Những lời xưng nhận của ma quỷ (8,29), của ông Phêrô (16,16tt), của vị sĩ quan phụ trách cuộc hành quyết (27,54), tuy hãy còn mập mờ trong hoàn cảnh lịch sử, nhưng đối với tác giả Mátthêu đó là những lời tuyên xưng thần tính của Chúa. Dầu sao, những lời chính Chúa Giêsu nói về mình mới thật là ý nghĩa, như khi Chúa tự cho mình là hơn cả Ðền Thờ (12,6), hơn cả ngôn sứ Giôna và vua Salômôn (12,41tt), và là Chúa của vua Ðavít (22,41-46); khi tự xưng là Con trong một tương quan duy nhất với Thiên Chúa (11,25tt; 12,50; 17,24-27; 21,33tt). Hai lời tuyên bố long trọng và dồi dào ý nghĩa nhất. Một là trước thượng hội đồng Dothái (26,63tt): sau khi xác nhận mình là Ðấng Mêsia, Chúa Giêsu còn nhắc lại lời sấm Ðanien về Con Người và cho hiểu Ngài là Thiên Chúa ("ngự bên hữu Ðấng Toàn Năng"). Hai là trước mặt các môn đệ quy tụ lại trên núi để lãnh sứ mệnh tiếp tục sự nghiệp của Chúa Phục Sinh, mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi được công bố minh nhiên (28,18-20) và Chúa Giêsu cho thấy Người chính là "Thiên Chúa ở cùng chúng ta" cho đến tận thế (x. 1,23).

3. Ðấng sáng lập Hội Thánh

Hội Thánh là cộng đoàn các "môn đệ", những người quy tụ quanh Chúa Giêsu và "học gương Thầy" (11,29; 23,8). Trước tiên phải kể đến Nhóm Mười Hai, rồi các bạn đồng hành khác của Chúa Giêsu khi Người còn tại thế, và nói chung là các kẻ tin theo Người. Tuy nhiên sau khi Chúa Phục Sinh và được vinh thăng, những người tin theo Chúa nhờ lời rao giảng của nhóm môn đệ đầu tiên cũng vẫn được gọi là môn đệ. Như lời tuyên bố cuối cùng cho thấy (28,19a), ơn gọi làm môn đệ được ban cho mọi người, ở mọi thời. Quả thế, Hội Thánh chính là Nước Trời ở trần gian, do Chúa Giêsu thiết lập như một xã hội thánh phẩm, được trao cho ông Phêrô (16,18-19) và các Tông Ðồ lãnh đạo (18,18). Bởi thế nhóm môn đệ tiên khởi, tuy vẫn mang tính lịch sử của mình, nhưng đã trở thành mẫu mực cho các tín hữu của các thế hệ tiếp theo. Hội Thánh xuất phát từ lòng dân Dothái, nên vẫn dựa trên căn bản Lề Luật cũ; nhưng chính Lề Luật thì đã được Chúa Giêsu kiện toàn. Tư cách của Chúa Giêsu là vị Thầy chính thức giải thích Luật Môsê, cho dân chúng và các môn đệ thấy thánh ý của Thiên Chúa, được Mátthêu nêu rõ trong năm bài giảng, nhất là trong bài giảng trên núi. Qua bài giảng này Mátthêu cho thấy một đàng Chúa Giêsu muốn đánh tan hiểu lầm của nhiều người cho rằng khi Ðấng Mêsia xuất hiện thì những đòi hỏi đạo đức của Cựu Ước cũng tiêu tan (x. 5,17). Ðàng khác Chúa Giêsu cũng phi bác những kẻ tự coi mình là người nắm giữ ý định ngàn đời của Thiên Chúa (5,20). Thật ra đối với Mátthêu, chỉ có lời Chúa Giêsu, được tiếp thu (7,24-26) và được hiểu đúng đắn (13,23), mới tạo được sự công chính đích thật (5,20) và dẫn người môn đệ đi tới đích trên con đường hoàn thiện (5,48; 19,21).

Mátthêu cho thấy thái độ căn bản của người môn đệ Chúa Giêsu là biết nghe, hiểu và thực hành lời của Người. Thật vậy, nếu trong Luca, môn đệ là chứng nhân, thì trong Mátthêu, môn đệ chủ yếu là thính giả, là người lắng nghe Thầy giáo huấn, đặc biệt trong các bài giảng. Chính để nói lên điều này mà trong bốn bài, Mátthêu dùng công thức quen thuộc "các môn đệ đến gần" (5,1; 13,10.36; 18,1; 24,1.3) để nghe Chúa giáo huấn. Cũng nên biết rằng trong các Tin Mừng Nhất Lãm thì Mátthêu là tác giả đưa ra nhiều nhất số lần huấn dụ dành riêng cho các môn đệ: 9,37-11,1; 13,10-13; 16,24-28; 17,10-13.19-20; 18; 19,23-20,19; 21,21-22; 24,1-2; 24,3-25,46.

Nghe lời Thầy giáo huấn, các môn đệ có hiểu không? Ở đây Mátthêu khác hẳn Máccô. Máccô nhấn mạnh rằng các môn đệ không hiểu; còn Mátthêu thì lại cho thấy rằng các môn đệ chính là những kẻ "nghe và hiểu lời rao giảng" (13,23). Quả thật ở cuối bài giảng bằng dụ ngôn, Chúa Giêsu hỏi các môn đệ "Anh em có hiểu những điều ấy không?" thì họ đã thưa: "Thưa hiểu" (13,51). Kiểu nói: "Bấy giờ các môn đệ (mới) hiểu" xuất hiện ở 16,12 và 17,13 đều cho thấy rằng hiểu lời Thầy là một đặc điểm của người môn đệ trong Mátthêu.

Tuy nhiên cũng có bốn lần Mátthêu ghi nhận các môn đệ không hiểu (13,36; 15,16; 16,9; 17,13). Sở dĩ như vậy là vì nghe mà hiểu được là hồng ân, chứ không phải vì môn đệ có trí khôn cắc sảo hay vì họ được ân thưởng do công trạng đã lập: "Bởi vì anh em thì được ơn hiểu biết mầu nhiệm Nước Trời" (13,11).

Ðặc điểm thứ ba của người môn đệ Chúa Kitô theo Mátthêu là thực hành điều Thiên Chúa muốn. Hiểu mà không thực hành thì chẳng khác gì nghe mà không hiểu. Chính ở điểm này, lòng trung thành thực sự của người môn đệ được chứng minh và đây cũng là điều tâm niệm đặc biệt của Mátthêu, như có thể thấy trong các câu xác định ai là bà con đích thực của Ðức Giêsu (12,46-50) và trong phần kết bài giảng trên núi (7,13-27).


Back to Vietnamese Missionaries in Taiwan Home Page