Tin Mừng
theo Thánh Máccô

Theo bản dịch của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ

Prepared for internet by Vietnamese Missionaries in Taiwan


DẪN NHẬP
TIN MỪNG THEO THÁNH MÁCCÔ

BỐ CỤC

Dựa trên các điểm mốc ở ba phương diện: di chuyển theo địa dư, tiến độ mặc khải mầu nhiệm Ðức Giêsu và lối kết cấu bản văn, người ta có thể nhận ra khá rõ bố cục của Máccô. Chúng tôi dựa theo X. Léon-Dufour Introduction à la Bible, t.III, vol.2, trang 49.

I. Dẫn Nhập: Giai đoạn dọn đường cho sứ vụ của Ðức Giêsu (Chương 1,1-13)

II. Mầu nhiệm Ðấng Mêsia (Chương 1,14-8,30)

III. Mầu nhiệm Con Người (Chương 8,31-16,20)

VÀI ÐẶC ÐIỂM TRONG LỜI VĂN

Máccô là sách Tin Mừng ngắn nhất trong bốn sách Tin Mừng của Tân Ước.

Lối trình bày của Máccô là kể chuyện về Ðức Giêsu để giúp người nghe khám phá mầu nhiệm Ðức Giêsu cùng với các nhân vật quanh Ðức Giêsu, và dẫn người nghe hòa mình với các môn đệ trong sự phát triển đức tin.

Lời văn sống động và cụ thể. Nhịp độ dồn dập: đưa Ðức Giêsu di chuyển từ nơi này sang nơi khác rất nhanh. Máccô tránh mọi chuyển động dư thừa, dùng đối thoại vắn gọn và sắc bén.

Từ ngữ có vẻ nghèo về số lượng, nhưng lại được vận dụng với tất cả sức diễn đạt phong phú. Thực tế và cụ thể, thích những con số xác định, những từ giảm nhỏ: chó con (7,27tt); con cá nhỏ (8,7); cô bé (5,41); chiếc thuyền nhỏ (3,9).

Nhiều từ Aram được giữ trong lời kể nhưng luôn được giải thích Boanerges (3,17), Talitha kum (5,41), Korban (7,11), epphatha (7,34), Bartimaios (10,46)... Những từ chuyên môn bằng tiếng Hylạp được giải thích bằng những từ Latinh (12,42; 15,16). Có nhiều kiểu nói vừa giải thích thêm, thí dụ: 1,32: "Chiều đến, khi mặt trời đã lặn"; 1,42: "Chứng phong cùi biến khỏi anh và anh được sạch".

Có những nét bổ túc riêng của Máccô, đôi khi mang tính cách một kỷ niệm thí dụ 1,16; 3,21; 5,2t.8.28.42.

Máccô ít chú trọng việc phối kết các mệnh đề theo đúng văn phạm, thường chỉ dùng chữ "và" (kai) để nối giữa các mệnh đề, do đó khi đọc cần chú ý rằng "và" có thể có nghĩa hoàn cảnh, điều kiện, thời gian... tùy mạch văn.

Những đặc điểm trong lời văn của Máccô cho thấy Máccô không phải là người "làm văn", cũng không phải một người kể chuyện tài ba. Máccô có vẻ một người tường thuật trung thành và ngây thơ, thấy sao nói vậy theo cách của mình. Nhưng đằng sau lời kể ngây thơ đó, người ta thấy cả một cái sườn vững chắc. Tác phẩm không phải là công trình sáng tác của Máccô, nhưng được tiếp nhận từ cộng đoàn. Ðiều ấy có nghĩa là Tin Mừng theo Máccô có nguồn gốc từ hai phía: một người chứng và một cộng đoàn đã sống niềm tin vào Ðức Giêsu Kitô (X. Léon-Duour Introduction à la Bibile. t.III, Vol.2, trang 42).

TÁC GIẢ

Truyền thống nhất loạt coi thánh Máccô là tác giả của sách Tin Mừng vẫn mang tên ông. Mặc dù trong sách không có gì để cho ta biết tác giả là ai, điều chắc chắn là nếu người ta muốn mượn danh thì phải mượn danh một vị nào nổi tiếng hơn.

Lời chứng xưa nhất về điều này là của giám mục Papiát, người đồng thời với thánh Pôlicáp, tức là thế hệ tiếp sau thế hệ thời Ðức Giêsu. Lời chứng còn ghi lại của giám mục Papiát có từ đầu thế kỷ II (100-110). Trong lời chứng có vài chi tiết khó khiểu, nhưng điều chính yếu thì rõ ràng: Máccô là người giúp thánh Phêrô trong việc giảng dạy và đã ghi chép thành một cuốn sách.

Những lời chứng khác đáng giá là của thánh Giúttinô (khoảng năm 150), thánh Irênê (+202), ông Téctulianô (+220), thánh Cơlêmentê thành Alêxanria (+215), ông Origiênê (+254). Các sách khác trong tân Ước cho chúng ta biết vài chi tiết về Máccô:

Ông Máccô đã theo hai thánh Banaba và Phaolô (Cv 12,25; 13,5) sau bỏ về (13,13), khiến hai nhà truyền giáo cũng chia tay nhau, thánh Banaba đưa ông Máccô qua Síp (15,37-39). Cl 4,10; Plm 24; 2Tm 4,11 nói đến ông Máccô là người cùng làm việc với thánh Phaolô.

Có nhiều nét trong sách Tin Mừng này có tính cách lời chứng bản thân thánh Phêrô và những kỷ niệm cá nhân như: trình thuật Ðức Giêsu gọi các môn đệ, chữa mẹ vợ ông Simon Phêrô, Ðức Giêsu rời Caphácnaum, Ðức Giêsu gọi Lêvi; Nadarét từ chối Ðức Giêsu; lời tuyên xưng của thánh Phêrô, người thanh niên giàu có, lời xin của hai anh em nhà Dêbêđê, Ðức Giêsu vào vào Giêrusalem, thanh tẩy Ðền Thờ, xức dầu ở Bêtania, Ghếtsêmani, Ðức Giêsu bị bắt, ông Phêrô chối Ðức Giêsu. Có thể thêm những nét của một chứng nhân trực tiếp như: những cái nhìn của Ðức Giêsu, tuổi của cô bé được sống lại...

Máccô không kể những chuyện đề cao, mà kể những chuyện bất lợi cho thánh Phêrô (thí dụ 8,33; 9,5; 14,29-31.66s), trong khi các sách Tin Mừng khác đề cao thánh Phêrô nhiều hơn.

Tất cả những nhận xét trên cũng cố lời chứng của giám mục Papiát nói về ông Máccô và liên hệ giữa ông với thánh Phêrô.

ÐỘC GIẢ

Ðọc Máccô thấy rõ là sách này được viết cho các Kitô hữu không phải gốc Dothái và sống ở ngoài xứ Paléttin.

Dấu hiệu tích cực là Máccô luôn quan tâm giải thích những từ Aram, những phong tục Dothái, những chi tiết về địa dư và nhấn mạnh ý nghĩa của Tin Mừng đối với dân ngoại (7,27; 10,12; 11,17; 13,10). Dấu hiệu tiêu cực là Máccô ít nói những gì thuộc về Luật (Môsê) và tương quan của Luật với Giao Ước Mới cũng như những điều thuộc về sự ứng nghiệm lời các ngôn sứ.

NƠI VÀ THỜI GIAN BIÊN SOẠN

Theo lời chứng của thánh Cơlêmentê thành Alêxanria, thánh Giêrônimô, sử gia Euxebiô và thánh Éprem, thánh Máccô viết sách Tin Mừng tại Rôma.

Những từ Hy lạp khó đều được dịch ra tiếng Latinh (12,42; 15,16) và những kiểu nói Latinh (2,23; 5,23; 3,6; 5,43; 11,32; 14,64.65; 15,15.19) trong Máccô củng cố lời chứng của các vị kể trên.

Về thời gian biên soạn của Máccô, truyền thống không thống nhất mấy. Thánh Irênê bảo Máccô viết sau khi thánh Phêrô chết. Thánh Cơlêmentê thành Alêxanria lại bảo Máccô viết đang khi thánh Phêrô còn sống.

Phân tích nội dung, dựa trên yếu tố là Máccô không nói gì ám chỉ tới việc Giêrusalem đã bị phá hủy, các nhà nghiên cứu cho rằng sách Tin Mừng Máccô đã được viết trước năm 70.

GIÁO LÝ

1. Tin Mừng

Máccô mở đầu bằng hàng chữ "Khởi đầu Tin Mừng Ðức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa". 1,14 lại nói "Tin Mừng của Thiên Chúa" và 1,15: "Tin Mừng". Tin Mừng của Thiên Chúa chính là Ðức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, vì trong Ðức Giêsu Kitô, Thiên Chúa đã thực hiện lời hứa cứu độ loài người. Tin Mừng này phải được loan báo cho mọi thọ tạo (13,10; 14,9; 16,15). Do đó, mà từ bỏ hoặc làm việc gì "vì Ðức Giêsu" hay "vì Tin Mừng" thì cũng đồng nghĩa (x. 8,35; 10,29).

Tin Mừng ấy không chỉ là một thông điệp của Thiên Chúa mà là chính hành động của Thiên Chúa giữa loài người, khởi đầu nơi Ðức Giêsu Kitô để rồi tiếp tục mãi trong lịch sử nhờ lời được trao cho các môn đệ. Ðể làm sáng tỏ điều này, Máccô nhấn mạnh việc các Tông Ðồ được chia sẻ cuộc sống và sứ mạng của Chúa Giêsu: "Người lập Nhóm Mười Hai để các ông ở với Người và để Người sai các ông đi rao giảng với quyền trừ quỷ" (3,14-15; x. 6,7). "Ðức Giêsu được rước lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa. Còn các Tông Ðồ thì ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hành động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng" (16,19-20).

Do đó, hai chủ đề lớn liên kết mật thiết với nhau xuyên suốt Máccô là: mầu nhiệm Ðức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa và con đường làm môn đệ Ðức Giêsu.

2. Ðức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa

Câu hỏi có tính trung tâm và chỉ đạo của Máccô được đặt ra ở 8,29: "Anh em bảo Thầy là ai?" Máccô kể chuyện để đặt người đọc trước sự thúc bách phải đích thân trả lời câu hỏi ấy. Những gì được kể lại về Ðức Giêsu cho người đọc cơ sở để trả lời.

Tiến trình mặc khải trong Máccô có hai giai đoạn rõ rệt:

a) Ngay từ lúc Ðức Giêsu khởi sự rao giảng tại Galilê, quyền năng bộc lộ trong lời rao giảng và hành động của Ðức Giêsu chống lại quyền lực của sự dữ đã được đám đông nhận ra (1,21-45; 3,7-10). Nhưng khi quỷ hô lên rằng "Ngài là Con Thiên Chúa" thì Ðức Giêsu cấm ngặt không cho chúng nói (1,25; 3,12). Trong khi đó giới lãnh đạo Dothái lại cho Người là công cụ của quỷ vương (3,22-30) và đã sớm đi tới quyết định giết Người (3,6).

Các môn đệ được chọn và có mặt từ đầu (1,16-20) lại có thái độ tìm hiểu. Khi Ðức Giêsu trừ quỷ, các ông lẩn trong đám đông với câu hỏi: "Chuyện gì thế này?" (1,27). Rồi khi Ðức Giêsu dẹp sóng gió thì chỉ có các ông với Chúa, các ông tự hỏi: "Người là ai?" Các ông nghe nhiều câu trả lời từ phía đám đông và cả Hêrôđê (6,14-16; 8,27-28). Các môn đệ luôn tỏ ra chậm hiểu, nhưng cuối cùng ông Phêrô cũng thay mặt các ông tuyên xưng "Thầy là Ðức Kitô" (8,29). Nhưng Ðức Giêsu lại cấm các ông không được nói điều đó ra (8,30).

b) Lý do của lệnh giữ "bí mật" được gợi ra ngay ở câu tiếp theo: "Rồi Người bắt đầu dạy cho các ông biết Con Người phải chịu đau khổ nhiều..." (8,31). Các ông chưa được nói ra vì chưa biết hết. Từ lúc này, lời loan báo sẽ được nhắc lại ba lần, dù các môn đệ không hiểu và không dám hỏi - chắc chắn không phải vì sợ hỏi, mà vì sợ phải nghe nhắc lại!

Cuối giai đoạn này, Ðức Giêsu không cấm người mù ở Giêrikhô kêu to: "Lạy Ngài, Con vua Ðavít...", vì mọi chuyện sắp sáng tỏ tại Giêrusalem.

Cuộc đụng độ của Ðức Giêsu với giới lãnh đạo Dothái tại Giêrusalem đưa giới này tới âm mưu thi hành quyết định đã nói đến ở 3,6.

Chính trong cuộc Thương Khó, bí mật của Ðức Giêsu đã được bày tỏ công khai. Ðức Giêsu tuyên bố rõ trước mặt Thượng Hội Ðồng Dothái (14,61.62), và ngay khi Ðức Giêsu chết, viên sĩ quan thấy Ngươi tắt thở như vậy liền nói: "Quả thật ông này là Con Thiên Chúa" (15,39). Danh hiệu Con Thiên Chúa được gắn liền với danh hiệu Con Người để diễn tả đầy đủ mầu nhiệm Ðức Giêsu.

Danh hiệu Con Thiên Chúa được đưa ra ngay ở đầu sách, được tiếng từ trời nói lên ở 1,11 và 9,7, và cuối cùng phát ra từ miệng viên sĩ quan "đứng đối diện với Ðức Giêsu" khi Người bị treo trên thập giá.

Mấy lần quỷ tuyên xưng thì Ðức Giêsu cấm chúng nói ra.

Khi hỏi Ðức Giêsu "có phải là Ðấng Mêsia, Con Ðấng đáng chúc tụng, không", có thể vị thượng tế đồng hóa hai danh hiệu ấy. Nhưng trong câu trả lời của Ðức Giêsu, Máccô lại cho thấy ý nghĩa cực đại của danh hiệu "Con Thiên Chúa" như các tín hữu tuyên xưng.

Ở đây, Ðức Giêsu tự nói về mình bằng danh hiệu "Con Người". Danh hiệu này xuất hiện ở 2,10: "Con Người có quyền tha tội" và 2,28: "Con Người làm chủ luôn cả ngày sabát". Từ khi bắt đầu loan báo cuộc Thương Khó và Phục Sinh, Người thường dùng (11 lần) để nói về mình trong bối cảnh Thương Khó - Phục Sinh, Thập Giá - Vinh Quang. Lời tuyên bố trước Thượng Hội Ðồng cho thấy danh hiệu này trong Tin Mừng lấy từ truyền thống khải huyền (Ðn 7,13). Trong Ðanien 7, "Con Người" chỉ tập thể dân Chúa. Nhưng Mc 13,26 và 14,62 lại cho thấy Con Người ấy chính là Ðức Giêsu sau khi trải qua cuộc Thương Khó.

Mầu nhiệm Ðức Giêsu Kitô Con Thiên Chúa chỉ được bộc lộ đầy đủ trên thập giá.

3. Ðức Giêsu và các môn đệ

Trong khi kể chuyện Ðức Giêsu, để đưa người nghe vào mầu nhiệm của Người, Máccô cũng đưa ra những mẫu người, cũng đơn sơ mộc mạc như thính giả của Máccô, đã được Ðức Giêsu dẫn vào trong mầu nhiệm của Người. Cách Ðức Giêsu dẫn dắt và dạy dỗ bộc lộ cho người nghe con đường để trở thành môn đệ của Ðức Giêsu.

Máccô đặt bốn môn đệ bên cạnh Ðức Giêsu, ngay từ những ngày đầu Người đi rao giảng. Các ông luôn ở bên Ðức Giêsu, chỉ rời xa Người lúc được sai đi rao giảng và trong cuộc Thương Khó. Sau khi Phục Sinh, Ðức Giêsu hẹn gặp lại các ông ở Galilê.

Giai đoạn thứ nhất: đời sống môn đệ, được đánh dấu bằng ba biến cố: Ðức Giêsu gọi bốn người chài lưới để đi chinh phục người ta (1,16-20); Ðức Giêsu chọn mười hai ông để ở lại với Người và để Người sai các ông đi (3,13-19) và chính việc Người sai các ông đi (6,7-13)

Bước đầu (1,16-3,6): các ông không làm gì hơn là ở bên Ðức Giêsu và Người bênh vực các ông.

Bước thứ hai (3,7-6,6): các ông được đặt tương phản với những người thù ghét Ðức Giêsu cũng như với những người thân thuộc của Ðức Giêsu, và tách khỏi đám đông: được dạy bảo riêng (4,1-3,4), được chứng kến những phép lạ đặc biệt hơn (4,35-5,43).

Bước thứ ba: Nhóm Mười Hai được sai đi rao giảng, rồi được tham gia việc nuôi đám đông. Nhưng sự chậm hiểu, cứng tin của các ông có vẻ như đi ngược chiều với những bước cố gắng của Ðức Giêsu (4,13; 6,52; 7,18; 8,14-21); càng lúc đầu các ông như càng đặc lại. Phép lạ Ðức Giêsu chữa người mù (8,22-26) có tác dụng làm mẫu và mở mắt cho các ông trước khi Người hỏi các ông một câu quyết liệt.

Giai đoạn thứ hai: ba lần Ðức Giêsu loan báo cuộc Thương Khó - Phục Sinh và dạy về những đòi hỏi của đời môn đệ. Trước giáo huấn về thập giá, các ông vẫn tỏ ra chậm hiểu, chậm tin. Giai đoạn này cũng kết thúc bằng việc Ðức Giêsu chữa một người mù và anh ta đi theo Người. Chỉ có Chúa là Ðấng quyền năng mở con mắt thể xác, mới có quyền mở con mắt linh hồn cho các ông tin.

Trước khi cuộc Thương Khó tới, Ðức Giêsu đã căn dặn các ông về cầu nguyện (11,20-25), về đức tin, về thái độ chờ đợi Chúa đến. Ðức Giêsu báo trước sự vấp ngã (14,26-31) và dặn các ông coi chừng bị cám dỗ. Nhưng sự chậm hiểu chậm tin của các ông đã bộc lộ đến tột cùng: tất cả bỏ trốn, ông Phêrô chối Chúa.

Ðức Giêsu Phục Sinh bắt đầu lại với các ông ở Galilê. Và lần này các ông được biến đổi thật sự.

Ðức Giêsu chỉ là Kitô và Con Thiên Chúa trọn vẹn với Thập Giá và Phục Sinh. Môn đệ của Ðức Kitô cũng không thể đi con đường nào khác.

Các môn đệ đầu tiên đã không hiểu Ðức Giêsu trước khi Người chịu Thương Khó và Phục Sinh, thì bất cứ ai muốn hiểu biết Ðức Giêsu cũng phải bắt đầu từ mầu nhiệm Thập Giá và Phục Sinh, và phải đi con đường ấy để trở nên môn đệ đích thật. Ðó là ơn của Ðấng Kitô phục sinh được biểu lộ qua lời hẹn gặp ở Galilê: Chúa vẫn đi bước trước.


Back to Vietnamese Missionaries in Taiwan Home Page