Tin Mừng
theo Thánh Luca

Theo bản dịch của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ

Prepared for internet by Vietnamese Missionaries in Taiwan


DẪN NHẬP
TIN MỪNG THEO THÁNH LUCA

DÀN BÀI LUCA

Sau lời tựa, tác giả cũng theo một dàn bài đại khái giống trong Mátthêu và Máccô:

Mở đầu Luca: Lời Tựa (Chương 1,1-4)

I. Thời Thơ Ấu (Chương 1,5-2,52)

II. Ðức Giêsu chuẩn bị thi hành sứ mệnh (Chương 3,1-4,13)

III. Ðức Giêsu rao giảng tại miền Galilê (Chương 4,14-9,50)

IV. Ðức Giêsu lên Giêrusalem (Chương 9,51-19,27)

V. Ðức Giêsu rao giảng tại Giêrusalem (Chương 19,28-21,38)

VI. Bài Thương Khó (Chương 22-23)

VII. Sau Phục Sinh (Chương 24)

Nhưng tác giả xếp đặt kỹ lưỡng và cẩn thận hơn nhằm cho thấy rõ được thời và nơi diễn ra lịch sử cứu độ. Ngoài ra, ông lại còn tỏ ra độc lập và khôn khéo khi tự ý bỏ điều này thêm điều kia và thay đổi thứ tự các biến cố cho hợp với quan niệm của mình hơn.

MỞ ÐẦU LUCA: Lời Tựa (chương 1,1-4)

Tin Mừng theo thánh Luca là cuốn thứ ba trong bốn sách Tin Mừng. Cuốn này có một điểm đặc biệt khác với hai cuốn kia trong bộ Nhất Lãm, là có lời tựa gửi cho "Thêôphilô", được viết như các tác phẩm viết bằng tiếng Hylạp thời bấy giờ.

Từ Hylạp "Thêôphilô" chỉ người yêu mến Thiên Chúa hay là bạn hữu của Thiên Chúa. Nhưng từ này cũng là một tên riêng, có lẽ trong Luca là tên của một nhân vật có địa vị trong xã hội và đóng một vai trò chính trị thời bấy giờ, hoặc có cảm tình với Kitô giáo, hoặc muốn tìm hiểu giáo lý của đạo mới đang được truyền giảng.

Trong lời tựa, tác giả nói rõ chủ đề, phương pháp và mục đích cuốn sách. Ông trình bày các biến cố xảy ra vào thời Giáo Hội bắt đầu công cuộc rao giảng. Ðể làm việc này, tác giả đã điều tra kỹ lưỡng nơi các nhân chứng đầu tiên và xếp đặt lại các sự kiện cho có thứ tự hầu cung cấp cho ông Thêôphilô một bản tường thuật xác đáng theo lối các sử gia đương thời (x.3,1-2). Nhưng lịch sử mà tác giả muốn tường thuật ở đây là lịch sử thánh, khác nghĩa với lịch sử thông thường, và mục đích của lịch sử này là trình bày ý nghĩa của các sự kiện đối với đức tin, một đức tin được ánh sáng của mầu nhiệm phục sinh và đời sống của Giáo Hội soi dẫn.

I. Thời Thơ Ấu: Ông Gioan Tẩy Giả và Ðức Giêsu sinh ra và sống ẩn dật (chương 1,5-2,52)

Chỉ riêng Luca mới có đoạn này. Các bài tường thuật trong đoạn này làm nổi bật song song hai khuôn mặt: Ðức Giêsu và ông Gioan Tẩy Giả, và cố tình cho thấy khuôn mặt ông Gioan rập theo khuôn mặt Ðức Giêsu. Những bài ấy còn nhấn mạnh đến mầu nhiệm Ðức Giêsu xuyên qua một chuỗi những thông điệp siêu nhiên công bố Người đầu thai bởi quyền năng Thánh Thần, Người là Thánh, là Con Thiên Chúa (1,35), là Ðấng Cứu Thế, là Ðấng Kitô và là Ðức Chúa (2,11), là ơn cứu độ Thiên Chúa ban, là ánh sáng muôn dân (2,30-32), nhưng cuối cùng bị đám đông dân Người chối bỏ (2,34). Vậy để mở đầu Tin Mừng, trước khi mặc khải từng giai đoạn của mầu nhiệm Ðức Giêsu, những trình thuật này cấu tạo một thứ lời tựa có tính Kitô học, có thể so sánh với lời tựa trong sách Tin Mừng theo thánh Gioan (Ga 1,1-18).

II. Ðức Giêsu chuẩn bị thi hành sứ mệnh (chương 3,1-4,13)

Như trong Mátthêu và Máccô, phần này đề cập đến sứ mệnh của thánh Gioan Tẩy Giả, biến cố Ðức Giêsu chịu phép rửa và lần đầu tiên đánh bại những cám dỗ của Xatan. Nhưng Luca tách biệt rõ ràng thời đại của ông Gioan - còn thuộc về Cựu Ước - và thời đại của Ðức Giêsu (3,20 chú thích). Luca làm nổi bật biến cố Chúa Cha công nhận Ðức Giêsu là Ðấng Mêsia sau khi Người chịu phép rửa (3,22 chú thích). Gia phả Ðức Giêsu đi ngược lên tới Ađam, cho thấy rõ Ðức Giêsu liên đới với toàn thể nhân loại (3,22-28). Câu kết bài trình thuật Ðức Giêsu chịu cám dỗ (4,13) tiên báo trận chiến quyết liệt trong cuộc Thương Khó của Người.

III. Ðức Giêsu rao giảng tại miền Galilê (chương 4,14-9,50)

Tất cả giai đoạn này diễn ra ở Galilê (x. 23,5; Cv 10,37), khác với Mt 15,21; 16,13 và Mc 7,24.31; 8,27. Mở đầu, Luca nói về bài giảng của Ðức Giêsu trong hội đường Nadarét (4,16-30). Bài giảng này khai mào cho tất cả Tin Mừng tiếp theo: loan báo ơn cứu độ dựa vào Kinh Thánh và được Thần Khí linh hứng, gợi ý dân ngoại cũng được ơn cứu độ, cho biết trước Ðức Giêsu bị đồng bào của Người chối bỏ và mưu toan hãm hại, và cuối cùng tường thuật các hành động (nhất là các phép lạ) và các lời giảng dạy của Người. Nhờ vậy, các môn đệ bắt đầu hiểu được đôi chút về thân thế của Người.

Phần này gồm ba đoạn:

- đoạn thứ nhất (4,16-6,11) theo khá sát thứ tự trong Mc 1, 16-3,6, và cho thấy Ðức Giêsu đối diện với quần chúng, với các môn đệ đầu tiên, với các đối thủ qua các phép lạ và những cuộc tranh luận,

- đoạn thứ hai (6,12-7,50) không có trong Máccô nhưng có trong Mátthêu tản mạn ở nhiều chỗ, mở đầu bằng việc tuyển chọn Nhóm Mười Hai và chú trọng trước hết đến lời Ðức Giêsu dạy các môn đệ trong bài giảng về các mối phúc thật,

- đoạn thứ ba (8,1-9,50) cũng giống như Mc 4,1-9,40, nhưng thiếu phần song song với Mc 6,45-8,26. Ðoạn này nói đến hoạt động của Nhóm Mười Hai được cộng tác vào sứ mệnh của Ðức Giêsu. Nhóm được nêu tên ngay ở Lc 8,1. Các ông được biết những mầu nhiệm của Nước Thiên Chúa thay vì chỉ nghe được dụ ngôn (8,10). Những phép lạ tiếp theo làm cho các ông tự đặt câu hỏi: "Vậy Người là ai?" (8,25). Sau đó, các ông được sai đi rao giảng về Nước Thiên Chúa (9,1-6) và được tích cực tham gia vào việc làm cho bánh hóa ra nhiều (9,12). Cuối cùng, Ðức Giêsu có thể buộc các ông phải có lập trường về bản thân Người, và thánh Phêrô tuyên xưng Người là "Ðấng Kitô của Thiên Chúa" (9,20). Liền sau đó, Ðức Giêsu đi sâu vào mầu nhiệm của Người: Người là Ðấng Mêsia phải bị giết chết (9,22), và Chúa Cha, trong vinh quang ngày Hiển Dung, sẽ tuyên bố trước mặt các ông Người là Con yêu dấu (9,35). Nhưng các ông được lệnh phải giữ bí mật không được tiết lộ cho ai biết Người là Ðấng Kitô của Thiên Chúa.

IV. Ðức Giêsu lên Giêrusalem (Chương 9,51-19,27)

Phần này dài nhất và cũng độc đáo nhất trong tác phẩm Luca. Nhiều tư liệu đã có sẵn đó đây trong Mátthêu và Máccô, nhưng chỉ có Luca là trình bày những tư liệu đó trong khuôn khổ một cuộc hành trình, vì đối với Luca, Giêrusalem, là trung tâm điểm ơn cứu độ: Ðức Giêsu lên Giêrusalem để hoàn thành ơn cứu độ (Sách Tin Mừng), sau này các Tông Ðồ sẽ từ Giêrusalem mang ơn cứu độ đó cho đến tận cùng trái đất (sách Công Vụ).

Mở đầu là một câu trang trọng hướng cuộc hành trình của Ðức Giêsu về biến cố vượt qua đang tiến tới giai đoạn hoàn tất (9,51). Người lên thành thánh Giêrusalem, nơi công trình cứu độ phải được thực hiện. Thật ra, cuộc hành trình này không theo lộ trình địa lý (10,13-15 và 13,31-33 có vẻ còn diễn ra tại Galilê; còn 13,34-35 thì cho hiểu rằng Ðức Giêsu đã rao giảng tại Giêrusalem). Ðây chỉ là một khuôn khổ được tác giả dàn dựng để gom tụ tư liệu của mình dưới ánh sáng của cuộc vượt qua sắp được hoàn thành.

Trong suốt phần này, lời nói của Ðức Giêsu được trọng hơn các phép lạ, và lời khuyến dụ hơn việc trình bày mầu nhiệm của Người (trừ 10,21-24; 12,49-50; 18,31-33 và 19,12-15). Người vẫn ngỏ lời với Ítraen: cuộc đối chất giữa Người với nhóm Pharisêu và các nhà thông luật thật là gay gắt (11,37-52); Người kêu gọi dân Người ăn năn trở lại (12,51-13,9) và nghĩ tới trường hợp lời kêu gọi của Người bị từ chối (13,23-35; 14,16-24). Người quay về phía các môn đệ, xác định cho các ông biết sứ mệnh của mình (9,52-10,20), kêu mời các ông cầu nguyện (11,1-13) và từ bỏ chính mình (12,22-34.51-53; 14,26-33; 16,1-13; 18,28-30). Một phần lớn những lời dạy dỗ các môn đệ nhắm đến hoàn cảnh Người không còn hiện diện giữa các ông nữa, tức là thời gian Người lên Giêrusalem, được "rước" đi, nên các ông phải cầu xin Thánh Thần (11,13) và tuyên xưng Thầy mình trước mặt thiên hạ (12,1-12), phải chờ đợi ngày Người trở lại (12,35-40; 17,22-18,8; 19,11-27), và chăm lo cho anh em mình trong cộng đoàn (12,41-48).

Câu Lc 18,15 nối lại trình thuật của Mátthêu (19,15) và Máccô (10,13). Nhưng ở phần cuối, Luca thêm bài tường thuật ông Dakêu được ơn cứu độ và nhất là dụ ngôn các yến bạc (19,1-10.11-27). Dưới ngọn bút của tác giả, bài dụ ngôn này như chuẩn bị cho cuộc đối đầu bi thảm giữa Giêrusalem và vị vua mà thành đó từ chối không nhìn nhận (x. 19,11 chú thích).

V. Ðức Giêsu rao giảng tại Giêrusalem (Chương 19,28-21,38)

Ðây là giai đoạn thứ ba trong sứ mệnh của Ðức Giêsu. Giai đoạn này cho thấy Ðức Giêsu hoàn thành công trình cứu độ của Người tại Giêrusalem - được coi là tiêu biểu cho Ítraen đối diện với Ðức Giêsu trong thảm kịch thập giá. Tác giả nhấn mạnh đến điểm này trong màn đầu, quang cảnh Ðức Giêsu khải hoàn vào thành (19,29-48): Người tiến vào thành như một vì vua (19,35-38); Người khóc thương thành vì thành từ chối không ra đón nhận Người (19,41-44); Người đuổi bọn con buôn ra khỏi đền thờ, nơi Người giảng dạy hằng ngày, để chứng tỏ uy quyền của Người tại đó.

Tác giả mô tả cuộc mặc khải của Ðức Giêsu tại Giêrusalem trong ba đoạn giống như Mátthêu và Máccô, nhưng thêm vào một số nét riêng.

Bài giảng trong đền thờ (20-21) kết thúc bằng lời tiên báo cuộc phán xét thành Giêrusalem và ngày Con Người xuất hiện. Tác giả viết những lời này cho toàn thể dân Ítraen.

VI. Bài Thương Khó (Chương 22-23)

Bài này cũng theo một lược đồ như các Tin Mừng khác, nhưng bài tường thuật bữa Tiệc Ly thì có thêm những lời Ðức Giêsu giảng dạy Nhóm Mười Hai về vai trò phục vụ của các ông, về địa vị của các ông trong Nước Trời mai sau, về hoàn cảnh mới của các ông sau khi Thầy đã ra đi (22,24-38). Những đau khổ Ðức Giêsu phải chịu càng làm nổi bật đức công chính của Người cũng như giá trị mẫu mực của cuộc Thương Khó Người phải chịu. Khi Ðấng Mêsia bị hạ nhục cũng là lúc Vương Quyền của Người trở thành hiện thực và được khẳng định (x. 22,69 chú thích; 23,37 chú thích).

VII. Sau Phục Sinh (Chương 24)

Các bài tường thuật về Chúa phục sinh (24) đều được định vị ở Giêusalem. Những bài này không nhắc đến truyền thống cổ xưa về những lần hiện ra tại Galilê (Mt 26;32; 28,7.10.16-20; Mc 14,28; 16,7; Ga 21), có lẽ để giữ cho cân đối với sách Công Vụ. Ðây là những bài giải thích cuộc Thương Khó như con đường Thiên Chúa định để đưa Ðức Kitô vào vinh quang của Người (c. 26), theo lời Kinh Thánh đã chép (cc. 25-27,44-46) và Ðức Giêsu cũng đã nhắc lại (c. 7). Cuối cùng, Chúa Giêsu hiện ra với Nhóm Mười Một để phá tan mối hoài nghi của các ông (cc. 36-43) và trao cho các ông sứ mệnh làm nhân chứng (cc. 47-49). Sách Tin Mừng kết thúc bằng bài tường thuật đầu tiên về cuộc thăng thiên (c. 51) chứng tỏ Ðấng phục sinh là Ðức Chúa (x. Cv 2,36).

Như vậy, toàn bộ Tin Mừng theo thánh Luca cho thấy rằng mầu nhiệm Ðức Giêsu đã được mặc khải một cách tiệm tiến, và những người phải rao giảng mầu nhiệm ấy, tức là các Tông Ðồ, đã cần một thời gian dài để từ từ tiếp cận và thấu hiểu mầu nhiệm của Người.

TÁC GIẢ

Vì sách Công Vụ cũng bắt đầu bằng một lời tựa gửi cho nhân vật Thêôphilô và nhắc đến quyển sách đầu tiên, nơi tác giả đã nói về "tất cả những gì Ðức Giêsu đã làm và đã dạy" (Cv 1,1-2), nên ngay từ thời Giáo Hội sơ khai, người ta đã kết luận rằng sách Tin Mừng và sách Công Vụ là do cùng một tác giả. Khoa chú giải hiện đại đã công nhận điểm này trên cơ sở ngôn ngữ và tư tưởng của cả hai tác phẩm là đồng nhất, cũng như mục tiêu của cả hai cân đối với nhau.

Ðàng khác, theo một truyền thống đã có từ cuối thế kỷ thứ II (thánh Irênê), tác giả Tin Mừng thứ ba chính là người thầy thuốc Luca mà thánh Phaolô đã nói tới ở Cl 4,14; Plm 24; 2Tm 4,11.

Về quê quán và năm sinh của tác giả, người ta không được rõ, chỉ biết rằng tác giả được ơn trở lại ở Antiôkhia và qua đời bên Hylạp.

Tác giả không được nhìn tận mắt Ðức Giêsu mà chỉ tin nhận Người là Chúa vinh quang qua khuôn mặt của Ðấng phục sinh. Nơi tác giả, đức tin của người được ơn trở lại hướng dẫn cái nhìn của nhà sử học, và đã giúp ông khám phá Ðức Kitô Giêsu trong trẻ thơ thành Bêlem, trong cậu thiếu niên ở đền thờ lúc 12 tuổi, trong vị ngôn sứ hướng cả đời mình về Giêrusalem, nơi mà công trình cứu độ được hoàn thành.

Thánh Luca cũng là một con người đặc biệt tế nhị, nhất là khi nói về Ðức Giêsu: ngài tránh những lối nói hơi thô của Máccô (Lc 4,1; 8,24.28.45...) và dành cho Người một danh xưng đặc biệt trên môi các môn đệ (x. 5,5 chú thích). Ngài được tặng cho danh hiệu là "văn sĩ ca tụng lòng nhân hậu của Ðức Kitô". Thánh Luca lấy làm cảm kích về bản tính nhân loại tuyệt vời của một vì Thiên Chúa đã tỏ ra xao xuyến trước tình cảnh một bà mẹ vừa mất đứa con duy nhất; một vì Thiên Chúa làm bạn với hạng tội lỗi bị người ta xa lánh; một vì Thiên Chúa cảm thông với giới phụ nữ bị người ta khinh bỉ; một vì Thiên Chúa gần gũi với đám dân nghèo bị người ta chà đạp.

Là thầy thuốc, nên tác giả viết về bệnh tật một cách chính xác, và cũng thế biết rung cảm trước những khổ đau nơi thân xác con người. Phải chăng vì vậy, trong tác phẩm của mình, tác giả đã dành cho những người nghèo khổ, ốm đau, tội lỗi và phụ nữ một chỗ đặc biệt, với những lời lẽ đầy ngọt ngào an ủi?

Tác giả lại còn có tài văn chương, thông thạo văn hóa Hylạp. Tác phẩm có nhiều ưu điểm: lời văn sáng sủa, mạch lạc, nhuần nhuyễn một cách linh động theo những đề tài khác nhau, và chứng tỏ một bút pháp thật điêu luyện ở một vài đoạn (1,1-4; 24,13-35). Cách trình bày có trật tự và nghệ thuật, phác họa nét độc đáo của cốt truyện. Ngôn ngữ Luca phong phú nhất trong tất cả các sách Tân Ước.

ÐỘC GIẢ

Ðộc giả được nêu tên là ông Thêôphilô, một nhân vật tượng trưng và cũng có thể là một nhân vật thiết thực. Dù sao, đó cũng là một nhân vật tiêu biểu cho những người Kitô hữu gốc ngoại giáo và theo văn hóa Hylạp. Có nhiều bằng chứng yểm trợ cho lời xác quyết này như văn từ, những lời giải thích về địa dư nước Paléttin (1,26; 2,4; 4,31; 8,26; 23,51; 24,13) và tập tục người Dothái (1,9; 2,23-24.41-42; 22,1.7); sự ân cần đối với dân ngoại, những chỗ nhấn mạnh cho thấy Chúa Giêsu phục sinh có thể xác thật sự (24,39-43), điều mà người Hylạp rất khó chấp nhận (Cv 17,33; 1Cr 15).

Như vậy, độc giả của Tin Mừng thứ ba là cả người trong đạo lẫn người ngoài đạo. Người trong đạo thì nhờ đọc Tin Mừng này mà thêm hiểu biết về Ðức Kitô và đạo lý của Người. Còn người ngoài đạo thì, nếu đọc sách này với tinh thần vô tư và khách quan, sẽ nhận thấy Kitô giáo không phải là một phong trào chính trị hay một giáo phái dành cho một thiểu số, mà là một niềm tin "công giáo", nghĩa là có thể truyền đạt đến cho mọi người ở khắp mọi nơi.

Sau cuộc giết hại các tín hữu vào năm 64 do bạo chúa Nêrô, nhiều người có thiên kiến và tỏ ra ác cảm với Kitô giáo. Nhưng nhờ đọc sách này, họ sẽ thấy rằng Ðức Kitô là người vô tội. Tính chất vô tội này đã được tổng trấn Philatô, viên toàn quyền của Rôma ở Paléttin, xác nhận khi ông nói: "Ta xét thấy người này không có tội gì đáng chết" (Lc 23,4.15.22).

THỜI GIAN VÀ NƠI BIÊN SOẠN

Muốn biết thời gian biên soạn sách Tin mừng thứ ba, phải dựa vào thời kỳ Giêrusalem bị quân đội Rôma tàn phá, dưới quyền chỉ huy của tướng Titút. Mátthêu và Máccô có nói đến quang cảnh này, nhưng đặt nó vào viễn tượng cánh chung, còn Luca thì tách rời ra. Dường như tác giả có biết thời kỳ Giêrusalem bị bao vây và tàn phá vào năm 70 (x. 19,43-44; 21,20.24). Như vậy, sách phải được viết sau thời gian này; các nhà chú giải hiện nay cho là vào thập niên 80-90, nhưng cũng có một số khác lại cho là sớm hơn.

Về nơi biên soạn, không thấy truyền thống để lại dấu vết gì, nên không thể nói chính xác được là viết ở đâu, tuy có dư luận cho rằng sách được viết ở Akhaia hoặc bên Aicập. Nhưng không lấy gì làm chắc và có lẽ dư luận đó muốn nói rằng Tin Mừng được loan báo chứ không phải được biên soạn tại hai nơi ấy.

MỤC ÐÍCH VÀ PHƯƠNG PHÁP BIÊN SOẠN

Trong lời tựa, thánh Luca đã giải thích điều ngài muốn làm và cách thế tiến hành công việc. Ngài cho biết sẽ "tường thuật những điều đã được thực hiện giữa chúng ta", có nghĩa là tường thuật cuộc đời Ðức Giêsu và thời kỳ thành lập Giáo Hội. tác giả không phải là người đầu tiên làm công việc này mà đã có những vị đi trước (có lẽ ám chỉ thánh Máccô), nên người sẽ dựa vào "truyền thống" của "những người đã được chứng kiến ngay từ đầu và đã phục vụ lời Chúa", nghĩa là những người đang rao giảng Tin Mừng và trước hết là các Tông Ðồ.

Việc biên soạn rất công phu, sử dụng các dữ kiện của truyền thống, khiến một số độc giả đặt vấn đề về tính lịch sử của Luca. Vấn đề này phức tạp và đòi hỏi phải nghiên cứu cả phương pháp được dùng cho sách Công Vụ các Tông Ðồ (x. Công Vụ). Trong khuôn khổ việc nghiên cứu Tin Mừng này, trước hết, ta biết rằng tác giả đã tuyên bố ý định "cẩn thận tra cứu" và "tuần tự viết ra" (1,1-4); ta cũng có thể nhìn nhận giá trị của một số lớn những điều tác giả đưa ra. Tuy nhiên, một đàng, tác giả nhìn "sự kiện Giêsu" với tất cả niềm tin của mình - điều mà các nhà sử học cho là một suy diễn cá nhân vượt ranh giới lịch sử. Ðàng khác, khi tường thuật lời nói và việc làm của Ðức Giêsu, tác giả quan tâm trước hết đến ý nghĩa của nó; đôi lúc ông tỏ ra không kể gì đến thứ tự thời gian (4,16-30; 5,1-11; 24,51) hoặc địa lý (10,13-15; 13,34-35; 24,36-49); các đoạn riêng của Luca đều có ý nghĩa đặc biệt (1-2; 4,16-30;5,1-11...). Mối quan tâm hàng đầu của tác giả không phải là mô tả cho chính xác các sự kiện như đã xảy ra, mà là công bố cuộc đời Ðức Giêsu, coi đó chính là lịch sử cứu độ. Thánh nhân tự trao cho mình bổn phận "giải mã" các biến cố, và ngài đã làm điều đó trong ánh sáng của truyền thống Giáo Hội. Công trình của ngài là của tác giả một sách Tin Mừng.

ÐẠO LÝ

1. Vì có ý định viết thêm một cuốn sách thứ hai (Công Vụ) để tường thuật công cuộc rao giảng của các Tông Ðồ, nên tác giả Luca phân biệt hai thời đại rõ ràng hơn Mátthêu và Máccô: thời đại Ðức Giêsu và thời đại Giáo Hội. Sách Tin Mừng cho thấy Ðức Giêsu chỉ hoạt động cho Ítraen. Dĩ nhiên trong Luca, sứ điệp cứu thế có tính cách phổ quát, đại đồng, nhưng luôn luôn được ghi trong những đoạn nhắc về tương lai (2,32; 3,6; 13,29; 14,16-24) hoặc qua những tiền ảnh, mô hình (3,23-38; 4,25-27; 7,9; 8,39; 10,1; 17,11-19). Chỉ có Chúa phục sinh mới trao sứ mệnh đi đến với muôn dân (24,47,48).

Sau đó, các Tông Ðồ sẽ hoàn thành sứ mệnh này nhờ được ban Thánh Thần (24,49; x. 12,12). Nhưng trong Luca, chỉ có Ðức Giêsu, Ðấng đã nhập thể bởi Thánh Thần (1,35), mới hành động với quyền năng của Thánh Thần (3,22; 4,1.14.18; 10,21).

Trong bài tường thuật thời thơ ấu, ông Simêon tiên báo Ðức Giêsu sẽ bị nhiều người trong Ítraen chối từ (2,34-35). Luca cho thấy sự chối từ này ngày càng thêm rõ rệt, những giai đoạn thập giá không phải là giai đoạn tối hậu, vì sau ngày Ngũ Tuần, các Tông Ðồ còn kêu gọi các người Dothái thành Giêrusalem hồi tâm sám hối và nhận lãnh ơn cứu độ.

2. Bằng cách phân biệt rõ ràng thời đại Ðức Giêsu và thời đại Giáo Hội, Luca muốn cho thấy rõ bàn tay Thiên Chúa tác động trong lịch sử loài người qua những giai đoạn kế tiếp nhau. Nhưng cách trình bày này không bao giờ làm cho tác giả quên rằng, trong Ðức Giêsu Kitô, Thiên Chúa đã một lần dứt khoát ban ơn cứu độ cho loài người. Vì thế, ngay từ đầu, Luca đã nhấn mạnh rằng ơn cứu độ là cho ngày hôm nay (2,11; 3,22; 4,21; x. 5,26; 19,9; 23,43). Quả thật, ngay từ giây phút đầu, Ðức Giêsu đã là Con Thiên Chúa (,35), là Ðấng Cứu Ðộ (2,11; x. 1,69-71.77; 2,30; 3,6), là Ðức Chúa (2,11; x. 7,13 chú thích cho thấy Luca nhấn mạnh trên tước hiệu này); Người khởi đầu công cuộc rao giảng bằng lời loan báo Tin Mừng cứu độ dành cho người nghèo khổ, nhỏ hèn (4,18; x. 7,22; 10,21).

Khi mô tả thời đại Ðức Giêsu, Luca đã nghĩ tới thời đại Giáo Hội. Hơn Mátthêu và Máccô, Luca thường gọi nhóm Mười Hai là Tông Ðồ (x. 6,13 chú thích), nói về nhiệm vụ các ngài trong các cộng đoàn (9,12; 12,41-46; 22,14-38) và những người sẽ trợ giúp các ngài trong công cuộc rao giảng Tin Mừng (10,1; x. 8,2-3.39).

Hơn nữa, trong giáo huấn của Ðức Giêsu, Luca cố ý chỉ cho thấy đâu là luật sống "hằng ngày" của người môn đệ (9,23; 11,3; 17,4).

Tác giả

Những đòi hỏi này rất nghiêm trọng, nhưng Luca chiếu tỏa niềm vui nhiều hơn Mátthêu và Máccô, vì ơn cứu độ của Thiên Chúa gieo rắc niềm vui:

Niềm vui

3. Ðức Giêsu đã tiên báo rằng Người sẽ quang lâm vào thời sau hết: Luca đặt viễn tượng thời sau hết ở điểm thời đại Giáo Hội kết thúc (12,35-48; 17,22-37; 18,8; 19,11-27; 21,5-36). Tuy nhiên Luca luôn nhấn mạnh những điều như:

nên trong Luca tính khẩn trương của cuộc quang lâm bị giảm đi (x. 17,23 chú thích). Niềm hy vọng nơi Luca chan chứa hoan lạc vì ơn cứu độ đã có được ngay hôm nay. Cũng thế, biến cố thành Giêrusalem sẽ bị tàn phá được Luca tiên báo nhiều lần (x. 19,27 chú thích) nhưng không có tính cách cánh chung nữa, mà chỉ là một biến cố lịch sử để trừng phạt những người có trách nhiệm trong vụ án giết chết Ðức Giêsu.

Ngoài ra, chỉ nguyên bố cục trong Luca cũng có thể cho thấy quan niệm của tác giả về lịch sử cứu độ (xem dàn bài).

Trong các sách Tin Mừng, có thể xem Luca là tác phẩm dễ đọc hơn hết và gần gũi nhất với độc giả thời nay. Những nét nổi bật về Ðức Giêsu sẽ giúp họ tiếp cận "mầu nhiệm Giêsu" và học nơi Người như học bậc thầy dạy cho biết sống làm người, làm con Thiên Chúa, một bậc thầy rất đòi hỏi nhưng đồng thời nhân hậu, niềm nở và sẵn sàng ban ơn cứu độ.


Back to Vietnamese Missionaries in Taiwan Home Page