Sách
Công Vụ Tông Ðồ

Theo bản dịch của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ

Prepared for internet by Vietnamese Missionaries in Taiwan


DẪN NHẬP
SÁCH CÔNG VỤ TÔNG ÐỒ

BỐ CỤC

Sách Công Vụ Tông Ðồ gồm 28 chương, được chia như sau:

Nhập đề (Chương 1,1-11)

I. Hội Thánh tại Giêrusalem (Chương 1,12-5,42)

II. Những bước đầu của công cuộc truyền giáo (Chương 06-12)

III. Hành trình truyền giáo của ông Banaba và ông Saolô. Công đồng Giêrusalem (Chương 13,1-15,35)

IV. Những cuộc hành trình truyên giáo của ông Phaolô (Chương 15,36-19,20)

V. Kết thúc những cuộc hành trình truyền giáo. Ông Phaolô, người tù của Ðức Kitô (Chương 19,21-28,31)

TÁC GIẢ

- Truyền thống Hội Thánh đồng ý nhận tác giả Sách Tin Mừng thứ ba cũng là tác giả sách Công Vụ Tông Ðồ. Chưa có ai đề xuất một tên tác giả khác. Thánh Irênê, thư quy Muratori, lời tựa chống Mácxiô đều công nhận sách Công Vụ Tông Ðồ là của thánh Luca.

- Ðối chiếu với sách Tin Mừng thứ ba: cả hai lời tựa Lc 1,3 và Cv 1,1 đều đề tặng ông Thêôphilô. Từ vựng, bút pháp, văn thể của hai sách giống nhau. Sách Công vụ Tông Ðồ tóm tắt hoặc nhắc lại "những việc Ðức Giêsu làm và những điều Người dạy" 1,1 đã được sách Tin Mừng Luca viết.

- Chính sách Công Vụ Tông Ðồ cũng cho ta những dấu hiệu để kết luận rằng tác giả là một bạn đồng hành của thánh Phaolô. Ðó là những đoạn tác giả kể trực tiếp ở ngôi thứ nhất số nhiều, người ta gọi là những đoạn "chúng tôi": 16,10-17; 20,5-15; 21,1-18; 27,1-28,6.

- Trong các bạn đồng hành của thánh Phaolô thì không ai thích hợp để được nhìn nhận là tác giả sách này hơn thánh Luca.

- Quả vậy, đối chiếu sách Công Vụ với các thư thánh Phaolô, chúng ta biết được: thánh Luca là người Xyria xứ Antiôkhia, làm nghề thầy thuốc, gốc dân ngoại Cl 4,10-14. Thánh Phaolô rất hài lòng, vì thánh Luca ở bên cạnh trong hai lần bị cầm tù ở Rôma Cl 4,14; Plm 24,2; 2Tm 4,11. Hơn nữa, thánh Luca còn là bạn đồng hành với thánh Phaolô trong các chuyến đi truyền giáo Cv 16,10; 20,6; x. 2Cr 8,18.

- Theo các bút tích của chính thánh Luca, người là một tín hữu thuộc thế hệ các Tông Ðồ, rất thông thạo văn chương Hylạp, hoặc đúng hơn là người Hylạp được tiếp thụ nền giáo dục sâu sắc về văn hóa phong tục người Dothái, và thông thạo Kinh Thánh Hylạp. Người có sở trường về thuốc, nên dùng từ ngữ y khoa, mô tả bệnh tật rõ ràng, chính xác Lc 4,23.

Muốn hiểu thêm về thánh Luca, độc giả có thể tham khảo phần dẫn nhập Tin Mừng Luca, hoặc các thư của thánh Phaolô.

THỜI GIAN VÀ NƠI BIÊN SOẠN

Chúng ta khó biết được thánh Luca đã biên soạn sách Công Vụ Tông Ðồ ở đâu. Ở Akhaia sau khi thánh Phaolô chết? hay là ở Rôma trước khi thánh Phaolô mãn hạn tù năm 61-63? như ta biết: Công Vụ Tông Ðồ được viết sau Tin Mừng Luca (Cv 1,1). Nếu Tin Mừng Luca viết sau năm 70, thì chắc chắn Công Vụ còn phải sau nữa. Dựa vào đoạn kết sách Công Vụ, không nói đến cái chết của thánh Phaolô, có người cho rằng Công Vụ được viết trước khi thánh Phaolô bị bắt lần thứ hai, năm 67. Cũng có người nghĩ rằng Công Vụ được viết đồng thời với Tin Mừng Máccô, nghĩa là khoảng năm 64. Ða số đã nghĩ Công Vụ được viết sau khi thánh Phaolô tử đạo, nhưng sau không lâu lắm, vì để lâu khó có sự xác thực. Nếu viết sau lâu các biến cố, thì thánh Luca sử dụng các thư của thánh Phaolô làm nguồn tài liệu; Trong thực tế, thánh Luca đã không dựa vào bằng chứng các thư của thánh Phaolô. Vậy Công Vụ được viết khoảng năm 70-80.

CHỦ ÐÍCH

Khi viết Công Vụ, thánh Luca coi Công Vụ là phần thứ hai của một cuốn sách, mà Tin Mừng theo Luca là phần đầu. Hơn nữa, truyền thống Hội Thánh trước kia nhìn nhận Luca và Công Vụ là một tác phẩm duy nhất. Mãi sau này anh em tín hữu ước ao có bộ bốn sách Tin Mừng riêng, nên Luca mới tách khỏi Công Vụ. Ðọc Công Vụ, chúng ta nhận thấy sách này hầu như chỉ viết về những hoạt động truyền giáo của hai vị Tông Ðồ chính là thánh Phêrô và thánh Phaolô. Tác giả dường như nhắm chủ đích viết tiểu sử của thánh Phêrô và thánh Phaolô. Thánh Phêrô khởi đầu hoạt động tập trung ở Giêrusalem, theo đúng lệnh truyền của Ðức Giêsu Lc 24,47. Còn thánh Phaolô vượt ra khỏi giới hạn địa lý và đến tận Rôma, tức là tận cùng thế giới, cũng đúng lệnh truyền của Ðức Giêsu. Qua hai vị Tông Ðồ, tác giả cho thấy:

- Tin Mừng lan tràn khắp thế giới. Các Tông Ðồ tiếp tục sứ mệnh của Ðức Kitô, đã đi loan báo Tin Mừng trước hết cho người Dothái, rồi mới đến các dân ngoại. Các Tông Ðồ không phải chỉ gồm Nhóm Mười Hai, nhưng còn gồm những người khác nữa, như ông Banaba, ông Têphanô, ông Philípphê, hoặc ông Apôlô. Chính thánh Phaolô cũng chẳng thuộc Nhóm Mười Hai.

- Sách Công Vụ là sách lịch sử về Hội Thánh thời sơ khai. Từ này lễ Ngũ Tuần, Chúa Thánh Thần luôn hướng dẫn, tác động các Tông Ðồ loan báo Tin Mừng. Mỗi biến cố làm cho Hội Thánh được lớn lên. Càng gặp khó khăn, thử thách, Hội Thánh càng có sức phát triển. Hội Thánh có một sức sống mãnh liệt nhờ Chúa Thánh Thần. Công Vụ đã ghi lại tất cả sinh hoạt của anh em tín hữu ở Giêrusalem, ở Antiôkhia, ở Tiểu Á, ở Hylạp. Cuối cùng, Tin Mừng lan đến Rôma, trung tâm văn minh thời ấy. Hội Thánh bén rễ sâu vào dân ngoại.

- Ngoài ra, tác giả sách Công Vụ nhắm đến hộ giáo. Người cho thấy Kitô giáo không gây nguy hại cho đế quốc như người ta tuyên truyền. Chính các viên chức Rôma như Xécgiô Phaolô, Galion, Phêlích, Phéttô, Ácríppa II xác nhận rằng không thấy các hoạt động của thánh Phaolô có lý do để kết án. Tác giả muốn Rôma nhìn nhận Kitô giáo được tự do loan báo và bình đẳng với các tôn giáo khác trong đế quốc.

GIÁ TRỊ LỊCH SỬ

Sách Công Vụ Tông Ðồ có phải là sách lịch sử không? câu trả lời tùy ở cách người ta quan niệm về lịch sử. Theo dàn bài và nội dung, sách này tường thuất những hoạt động của các Tông Ðồ và sự phát triển của Hội Thánh sơ khai, Công Vụ có thể được gọi là sách lịch sử. Tuy nhiên, Công Vụ không phải là lịch sử Hội Thánh, mà là lịch sử ơn cứu độ. Qua các diễn từ của thánh Phêrô, thánh Têphanô và thánh Phaolô, sách Công Vụ tường thuật lại một phần lịch sử ơn cứu độ, vào giai đoạn cuối cùng: thời đại của Chúa Thánh Thần.

Với tư cách là sử gia, thánh Luca đã viết Công Vụ một cách khá khoa học. Những hoạt động truyền giáo người tham gia hay biến cố nào người chứng kiến tận mắt, người mô tả mạch lạc và sử dụng "chủ từ" ở ngôi thứ nhất số nhiều "chúng tôi": 16,10-17; 20,5-15; 21,1-18; 27,1-28,6.

Ngoài ra, khi sử dụng các nguồn tài liệu khác đang phổ biến trong Hội Thánh, người cố gắng trung thực theo tinh thần hơn là chi tiết có tính cách sử biên niên. Ðọc 15 chương đầu sách Công Vụ, ta có thể nhận thấy rõ điều ấy. Thực ra, dầu không sử dụng các thư của thánh Phaolô, thánh Luca tường thuật rất chính xác các biến cố, các dữ kiện truyền giáo. Với tâm hồn tế nhị, người cố gắng giảm thiểu những biến cố quan trọng hoặc có thể bỏ qua, như trường hợp ở Antiôkhia, khác với Gl 2,11-21.

Ðọc Công Vụ, người ta cũng có thể biết được lịch sử xã hội thời ấy. Hơn nữa, tác giả giúp độc giả xác định được địa lý, vị trí của biến cố xảy ra: 1,12; 13,13; 14,6; 27,5; 27,8; hoặc người giải thích các địa chỉ: 9,11; 10,6; 16,14-15; 17,5-7; 18,3.7; 21,8.16.

Người ta đặt vấn đề tính xác thực các bài giảng của các Tông Ðồ. Công Vụ được biên soạn sau các biến cố; vậy thánh Luca có trung thành ghi lại các bài giảng không? Theo thói quen thời ấy, các sử gia thường biên soạn bài giảng và gán cho các nhân vật lịch sử. Thánh Luca không tránh khỏi thông lệ ấy. Tuy nhiên, các cộng đoàn tín hữu còn nhớ kỹ giáo huấn các Tông Ðồ. Nên, đó là nguồn tài liệu phong phú giúp thánh Luca có thể thực hiện các bài giảng của các Tông Ðồ. Ngoài ra, nhờ kinh nghiệm sống với thánh Phaolô, hoặc với các ông Xila, Timôthê, thánh Luca cũng có thể viết trung thực các bài giảng của các Tông Ðồ.

ÐẠO LÝ

a) Chúa Thánh Thần

Người ta nói sách Công vụ Tông Ðồ là Tin Mừng của Chúa Thánh Thần. Trước khi lên trời, Ðức Kitô đã bảo đảm với các môn đệ là Người sẽ tuôn đổ trên các ông đặc sủng thời thiên sai, đó là Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần mặc cho các ông sức mạnh từ trời và dẫn đưa các ông hoàn thành nhiệm vụ làm chứng nhân Lc 24,47-49; Cv 1,5.8. Chính trong ngày lễ Ngũ Tuần, các Tông Ðồ đã được rửa bằng Thánh Thần 1,5. Chúa Thánh Thần đánh dấu khởi đầu thời đại của Hội Thánh như phép rửa ở sông Giođan khai mạc sứ vụ công khai của Ðức Giêsu.

Hoạt động của Chúa Thánh Thần thể hiện qua sức mạnh phi thường của việc loan báo Tin Mừng của các Tông Ðồ 2,5-6; 5,32; 6,10, qua nếp sống bác ái huynh đệ của anh em tín hữu thời Hội Thánh sơ khai 2,44-45; 4,32-36; qua việc truyền giáo. Chính Chúa Thánh Thần đã thúc đẩy các Tông Ðồ phải rời bỏ lãnh địa Dothái giáo để đến với các anh em dân ngoại, đòi hỏi họ tin vào Ðức Giêsu là Ðấng Kitô và là Ðức Chúa. Các chương 10-11 là trọng tâm của sách Công Vụ Tông Ðồ. Trong mọi trường hợp, giây phút quyết định là Chúa Thánh Thần thúc bách các Tông Ðồ đi truyền giáo 13,2-4; 16,6-7. Chúa Thánh Thần hoạt động mỗi ngày một nhiều hơn, như ơn nói tiếng lạ 10,46; ơn làm ngôn sứ 11,8; 21,11-12; 13,1; 15,32; 21,9.

Nhờ những hoạt động của Chúa Thánh Thần, ta có thể nói về ngôi vị của Người, vì Người luôn tỏ ra là quyền năng của Thiên Chúa. Chúa Thánh Thần được gọi là Thần Khí của Chúa 5,9, vì chính Ðức Giêsu đã cử Người đến, khi nhận từ nơi Thiên Chúa Cha 2,33. Thực ra, chính Thiên Chúa Cha đã hứa ban Thánh Thần 1,4; 2,33. Do đó, Thánh Thần của Chúa Cha, như Ðức Giêsu đã giới thiệu Mc 13,2; Lc 21,15; Ga 14,15-17; 15,26-27; 16,7.11. Thánh Phêrô đồng hóa Thánh Thần với Thiên Chúa 5,3. Những hoạt động của Thánh Thần chứng tỏ Người là một ngôi vị biệt lập 8,26.29; 10,3.19; 19,21.

b) Ðức Kitô

Sách Công Vụ Tông Ðồ không nói nhiều về đời sống trần gian của Ðức Giêsu. Qua các bài giảng của các Tông Ðồ, người ta biết được đôi nét căn bản quan trọng cuộc đời của Ðức Giêsu. Người là con cháu vua Ðavít 2,30; 13,23; sinh sống ở Nadarét 2,22; 3,6; 4,10; 6,14; 10,37; 22,8; 26,9. Mẹ Người là bà Maria và anh em Người ai cũng biết 1,14. Những việc Người làm, những lời Người dạy 1,22; 10,37-38; 13,34. Cuộc Thương Khó, chết và sống lại của Người chiếm một chỗ quan trọng trong các bài giảng 2,23; 3,15; 4,28; 5,30; 7,52; 13,27.29. Các Tông Ðồ là những chứng nhân đặc biệt của Người, vì các Tông Ðồ chia sẻ cuộc đời trần thế của Người, đã đi theo Người từ Galilê đến Giêrusalem 13,31, đã thấy Người sau khi Người Phục Sinh.

Các Tông Ðồ xác tín rằng Ðức Giêsu phục sinh ngự bên hữu Chúa Cha. Người có mọi quyền năng như Chúa Cha và cử Thánh Thần ngự xuống trên nhân loại, như thánh Phêrô đã khẳng định trong ngày lễ Ngũ Tuần, 2,33. Ông Têphanô chiêm ngắm Người đang ngự bên hữu Chúa Cha 7,55-56. Hội Thánh sơ khai đồng tâm nhất trí tuyên xưng rằng Thiên Chúa đã phục sinh Con của Người 2,24.32; 3,26; 13,34; 17,31; 3,15; 4,10; 5,30; 10,40 và đã siêu tôn Người 2,33-34; 3,13; 5,31. Chính Kinh Thánh đã minh chứng điều ấy Tv 19,6; 116,3. Vua Ðavít đã tuyên sấm về Ðấng Kitô Tv 132,11; 89,4-5.

Ðức Giêsu thực hiện kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa đúng như lời các ngôn sứ đã loan báo 3,18.24; 10,43; 13,27. Người thực là tôi trung của Thiên Chúa: Dcr 13,7; Tv 22; Is 53,12. Trách nhiệm của người Dothái trong vụ án Ðức Giêsu không thể nào bỏ qua, vì họ đã không nghe tổng trấn Philatô 3,13-15. Họ đã buộc Người phải chết và đóng đinh Người 2,23; 3,13-15; 4,10; 10,40. Thực ra, họ hành động mù quáng và thực hiện các sấm ngôn 3,17-18; 13,27-29.

"Thiên Chúa đã đặt Người làm Ðức Chúa và làm Ðấng Kitô" 2,36. Danh xưng này hàm chứa đức tin sâu xa của anh em tín hữu thời sơ khai, đồng thời diễn tả niềm tin của người tín hữu: xưa kia dân Dothái tôn thờ Thiên Chúa là Ðức Chúa, nay người tín hữu cũng tôn thờ Ðức Giêsu là Ðức Chúa. Người tín hữu kêu cầu danh Ðức Giêsu 2,21; 9,14.21; 22,16. Như vậy, Ðức Giêsu là Thiên Chúa. Tin vào Danh Ðức Giêsu, sẽ được cứu độ 4,12. Các Tông Ðồ rao giảng, hoạt động hay chịu đau khổ đều vì Thánh Danh 3,6.16; 4,10.17-18; 5,28.40-41; 8,12.16; 9,15-16; 27,28.

c) Các Tông Ðồ

"Chúng tôi theo Chúa Giêsu trong suốt thời gian Người sống giữa chúng ta, kể từ khi Người được ông Gioan làm phép rửa cho đến ngày Người lìa bỏ chúng ta và được rước lên trời... chứng nhân về cuộc Phục Sinh của Người" 1,21-22.

Các Tông Ðồ là những người đi theo Ðức Giêsu và được chọn để làm chứng cho cuộc đời và sự Phục Sinh của Người.

Sau lễ Ngũ Tuần, các ông theo lệnh truyền của Ðức Giêsu 1,8 đã khởi sự làm chứng cho Người từ Giêrusalem 2,14-36, cho đến tận cùng trái đất 28,31.

Trước hết các ông làm chứng cho người Dothái 2,22-24 biết Ðức Giêsu Nadarét mà họ đã giết chết, nay đã sống lại và đang sống. Chính Người thực hiện kế hoạch cứu độ mà Thiên Chúa đã hứa với các tổ phụ; ông Môsê và các ngôn sứ đã loan báo. Qua những bài giảng của thánh Phêrô 2,14-36.38-39; 3,12-26; 4,8-12; 5,17-40; hay của thánh Phaolô 13,16-41; 26,22-23; chúng ta có thể rút được một ít điểm giáo lý các Tông Ðồ:

- Thời kỳ hoàn thành đã đến. "Ngày của Ðức Giêsu" bắt đầu từ Ðức Giêsu 2,16; 3,18.24.

- Các sấm ngôn được thực hiện, đúng theo kế hoạch Thiên Chúa, xuyên qua sứ vụ, cái chết và sống lại của Ðức Giêsu 2,30-31; 3,22; 4,10.

- Sau khi sống lại, Ðức Giêsu được tôn vinh ngự bên hữu Chúa Cha, trở thành thủ lãnh của dân Ítraen mới 2,23-36; 3,13; 5,31.

- Chúa Thánh Thần hoạt động trong Hội Thánh là dấu chỉ về quyền năng và vinh quang của Ðức Kitô 2,33; 5,32.

- Thời cứu độ sẽ hoàn tất khi Ðức Kitô giáng lâm 3,20.21; 10,42.

Còn khi rao giảng cho người ngoài Dothái giáo, các Tông Ðồ nhấn mạnh đến con người lịch sử của Ðức Giêsu 10,34-43, hoặc trình bày Thiên Chúa là Ðấng sáng tạo và làm chủ lịch sử như bài giảng của thánh Phaolô tại Lýtra 14,15-17 hay ở Athen 17,22-31.

Trong khi giảng dạy, các Tông Ðồ được các đặc sủng, như đặc sủng "ngôn ngữ": trường hợp của thánh Phêrô ở Giêrusalem 2,4-13; đặc sủng "làm phép lạ": thánh Phêrô chữa một người què 3,1-10; chuyện Khanania và Xaphira chết 5,1-12; người tê bại ở Lốt 9,32-35; bà Tabitha được sống lại 9,36-43; người bại chân ở Lýtra 14,8-18; người chết sống lại ở Tơroa 20,7-12.

Các Tông Ðồ làm nhiều dấu lạ điềm thiêng 5,12; 19,11, đến nỗi bóng của thánh Phêrô che phủ 5,15-16, hay áo của người ta chạm đến da thánh Phaolô cũng đủ sức mạnh chữa lành nhiều người bệnh 19,12.

Các Tông Ðồ làm chứng đến mức độ hy sinh mạng sống; trường hợp của phó tế Têphanô 7,59-60; tông đồ Giacôbê 12,2.

Hội Thánh không phải là một đám đông ô hợp, nhưng là một cộng đoàn. Do đó cần phải có tổ chức để việc phục vụ anh em tín hữu đạt hiệu quả hơn. Các Tông Ðồ chuyên lo giảng dạy Lời Thiên Chúa 6,14, rao giảng Ðức Giêsu 2,22, nên không thể nào quan tâm đúng mức đến những anh em nghèo, các bà góa... vì vậy các Tông Ðồ đặt các phó tế 6,1 trông coi việc ăn uống của cộng đoàn cũng như tài sản chung.

Ngoài ra, sách Công Vụ còn nói đến các kỳ mục 11,30. Hai thánh Phaolô và Banaba "chỉ định cho mỗi Hội Thánh những kỳ mục" 14,23. Hẳn nhiên, các kỳ mục này rất khác với các kỳ mục Dothái giáo. Ðọc ch.15 và 16, ta thấy các kỳ được nói ngay sau các Tông Ðồ: 15,2.4.6.22.23; 16,4. Như vậy các kỳ mục là cộng sự viên quan trọng bên cạnh các Tông Ðồ và sẽ thay thế các Tông Ðồ, khi các ông vắng mặt 20,17 hoặc chết.

Như thế các Tông Ðồ xây dựng Hội Thánh vững chắc không những bằng lời giảng dạy, mà còn bằng cả nhân sự: các kỳ mục và phó tế. Ðó là giới lãnh đạo của "đạo" mới. Chưa có quy chế về các phó tế và kỳ mục thời các Tông Ðồ. Sau này, Hội Thánh phát triển, thêm nhiều tín hữu, thì cần có nhiều kỳ mục. Tất nhiên lúc ấy phải có quy chế.

d) Hội Thánh

Từ "Hội Thánh" xuất hiện lần đầu tiên trong Cv 5,11. Xưa kia, dân Ítraen đã được Thiên Chúa tập họp trong sa mạc và được thánh hiến Xh 19,6. Từ đó, Ítraen được gọi là dân thánh. Sau này các ngôn sứ gọi cộng đoàn thiên sai x. Ðn 7,18 là dân thánh. Thiên Chúa là Ðấng chí thánh Is 6,3, nên những ai hiến thân phục vụ Người cũng được gọi là thánh x. Lv 17,1. Sách Công Vụ gọi đoàn thể những người đi theo Ðức Kitô là Hội Thánh, vì các tín hữu đã nhận "phép rửa bằng Thánh Thần" 1,5 "nhân danh Ðức Giêsu Kitô" 2,38. Họ được Thiên Chúa kêu gọi 2,39. Ðoàn thể ấy trước ngày lễ Ngũ Tuần chỉ có một trăm hai mươi 1,15, sau lễ Ngũ Tuần số tín hữu càng ngày càng gia tăng 2,41.47; 4,4; 5,14; 6,17; 9,31; 11,24; 14,1; 16,5.

Hội Thánh khai sinh từ môi trường Dothái giáo với những truyền thống nghi thức khắt khe. Nhưng dần dần Hội Thánh được Chúa Thánh Thần tác động, hướng dẫn đi tới dân ngoại. Hội Thánh quy tụ các dân tộc thuộc mọi nền văn hóa khác nhau, như người Samari 8,4-25; quan thái giám người Êthiốp 8,26-40; ông Conêliô đại đội trưởng Rôma 10,1-48; những người gốc Sýp, Kyrênê, Antiôkhia 11,20. Những chuyến truyền giáo của thánh Phaolô cho dân ngoại miền Tiểu Á và Hylạp 13,2 - 21,30 ở Rôma 28,17-31. Trong chính môi trường ngoại giáo, những người tin theo Ðức Kitô được gọi là Kitô hữu 11,26. Gọi thế để phân biệt người không theo Ðức Kitô với môn đệ Ðức Kitô, hoặc phân biệt nhóm người theo tôn giáo mới với Dothái giáo. Các Kitô hữu xưng tụng Ðức Giêsu là Chúa và kêu cầu danh Người. Về danh xưng các tín hữu, cũng có nhiều tên gọi. Các tín hữu ở Giêrusalem gọi là "anh em" 1,15; 11,1; 12,17; 14,2; 21,17-18. "tín hữu" vì tin vào Ðức Giêsu 2,44; 4,32; 18,27; 19,18; 21,20. Nếu tín hữu ở ngoài Paléttin, thì họ được gọi là "môn đệ" 9,1-26; 16,1; 18,23; hoặc theo "đạo" 9,2; 19,9.23; 22,4; 24,14.22 hoặc "theo đường của Chúa, của Thiên Chúa" 18,25-26, "con đường cứu độ" 16,17. Còn những người tố cáo các Tông Ðồ và tín hữu, thì gọi các ngài là "phái Nadarét" 24,5.

Hội Thánh là cộng đoàn các tín hữu chuyên cần nghe các Tông Ðồ giảng dạy, 2,42. Ðức tin có là nhờ người giảng dạy. Thật vậy, các Tông Ðồ là những chứng nhân của Ðức Kitô, nên các ông loan báo các việc Người làm, các điều Người dạy x. 1,1, đồng thời cũng chứng minh Người hoàn tất lịch sử cứu độ, khi Người chấp nhận chết trên thập giá và Thiên Chúa cho Người chỗi dậy từ cõi chết 3,15 và đặt Người làm Ðức Chúa và làm Ðấng Kitô 2,36. Ai tin vào danh Người, thì được ơn tha thứ tội lỗi 10,43. Không phải chỉ có Nhóm Mười Hai, mà còn có nhóm bảy phó tế, thánh Phaolô và các bạn đồng hành giảng dạy cho tín hữu. Trung thành với giáo huấn các Tông Ðồ, anh em tín hữu tránh được những dèm pha, đe dọa từ phía anh em Dothái giáo, giữ vững đức tin, đi theo đúng đường của Ðức Kitô.

Hội Thánh là một cộng đoàn hiệp thông 2,42; bác ái huynh đệ 20,35. Anh em tín hữu sống một lòng một ý với nhau 4,32; 2,44; 6,1; 2,46; 5,12; 15,25. Hơn nữa họ còn để chung của cải 2,44; 4,32, chia sẻ giữa anh em với nhau 9,36; 20,34, trợ giúp giữa các cộng đoàn 11,29, thông cảm giữa tín hữu cắt bì và không cắt bì 15,1-25.

Hội Thánh là một cộng đoàn phụng vụ. các tín hữu "siêng năng tham dự lễ bẻ bánh" 2,42. "Bẻ bánh" là một cử chỉ thân quen của Ðức Giêsu. Trong bữa Tiêc Ly, Người đã làm như thế khi Người thiết lập bí tích Thánh Thể. Các tín hữu tham dự lễ bẻ bánh là dự buổi tạ ơn, cử hành bí tích Thánh thể. Cv 20,7-12 tường thuật "ngày thứ nhất" trở nên quan trọng, vì là ngày kỷ niệm Chúa Kitô phục sinh. Hội Thánh dành ngày thứ nhất trong tuần để cử hành nghi thức phụng vụ.

Hội Thánh là một cộng đoàn cầu nguyện. Các tín hữu thời Hội Thánh sơ khai cầu nguyện trong mọi hoàn cảnh, 1,14: sau khi Chúa lên trời; 1,24: chọn ông Mátthia; 4,24-30: cầu cho các Tông Ðồ phải ra trước Thượng Hội Ðồng; 6,6: đặt tay chọn bảy phó tế; 7,59: ông Têphanô cầu nguyện trước khi bị ném đá; 9,40: trước khi các Tông Ðồ đi truyền giáo; 8,15.17: khi đặt tay trên các Tông Ðồ đi truyền giáo; 12,12: cầu cho các Tông Ðồ. ta có thể kể thêm trong 13,3; 14,23; 16,25; 22,17; 28,1. các tín hữu vừa kêu cầu Thiên Chúa, vừa kêu cầu danh Ðức Giêsu 4,12. cầu nguyện mang tính cộng đoàn 4,42. Các tín hữu chuyên cần cầu nguyện để tạ ơn Chúa vì đã được ơn cứu độ và để tuân phục kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa.


Back to Vietnamese Missionaries in Taiwan Home Page