(1) Thời đó, khi số môn đệ thêm đông, thì các tín hữu Dothái theo văn hoá Hylạp kêu trách những tín hữu Dothái bản xứ, vì trong việc phân phát lương thực hằng ngày, các bà goá trong nhóm họ bị bỏ quên. (2) Bởi thế, Nhóm Mười Hai triệu tập toàn thể các môn đệ và nói: "Chúng tôi mà bỏ việc rao giảng Lời Thiên Chúa để lo việc ăn uống, là điều không phải. (3) Vậy, thưa anh em, anh em hãy tìm trong cộng đoàn bảy người được tiếng tốt, đầy Thần Khí và khôn ngoan, rồi chúng tôi sẽ cắt đặt họ làm công việc đó. (4) Còn chúng tôi, chúng tôi sẽ chuyên lo cầu nguyện và phục vụ Lời Thiên Chúa". (5) Ðề nghị trên được mọi người tán thành. Họ chọn ông Têphanô, một người đầy lòng tin và đầy Thánh Thần, cùng với ông Philipphê, Pơrôkhôrô, Nicano, Timôn, Pácmêna và ông Nicôla, một người ngoại quê Antiôkhia đã theo đạo Dothái. (6) Họ đưa các ông ra trước mặt các Tông Ðồ. Sau khi cầu nguyện, các Tông Ðồ đặt tay trên các ông.
(7) Lời Thiên Chúa vẫn lớn lên, và tại Giêrusalem, số các môn đệ tăng thêm rất nhiều, lại cũng có mộït đám rất đông các tư tế đón nhận đức tin.
(8) Ông Têphanô được đầy ân sủng và quyền năng, đã làm những điềm thiêng dấu lạ lớn lao trong dân. (9) Có những người thuôïc hội đường gọi là hội đường của nhóm nô lệ được giải phóng, gốc Kyrênê và Alêxanria, cùng với một số người gốc Kilikia và Tiểu Á, đứng lên tranh luận với ông Têphanô. (10) Nhưng họ không địch nổi lời lẽ khôn ngoan mà Thần Khí đã ban cho ông. (11) Bấy giờ, họ mới xui mấy người phao lên rằng: "Chúng tôi đã nghe hắn nói lộng ngôn xức phạm đến ông Môsê và Thiên Chúa". (12) Họ sách động dân và các kỳ mục cùng kinh sư, rồi ập đến bắt ông và điệu đến Thượng Hội Ðồng. (13) Họ đưa mấy người chứng gian ra khai rằng: "Tên này không ngừng nói những lời phạm đến Nơi Thánh và Lề Luật. (14) Vì chúng tôi đã nghe hắn nói rằng Giêsu người Nadarét ấy sẽ phá huỷ nơi này và thay đổi những tục lệ mà ông Môsê đã truyền lại cho chúng ta". (15) Toàn thể cử toạ trong Thượng Hội Ðồng đều nhìn thẳng vào ông Têphanô, và họ thấy mặt ông giống như mặt thiên sứ.
(1) Bấy giờ vị thượng tế hỏi ông Têphanô: "Có đúng như vậy không ?" (2) Ông đáp: "Thưa anh em, thưa các bậc tiền bối, xin nghe tôi đây: Thiên Chúa hiển vinh đã hiện ra với ông Ápraham, tổ phụ chúng ta, khi ông còn đang ở miền Mêxôpôtamia, trước khi ông đến ở Kharan. (3) Người phán với ông: Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng ngươi, và đến đất Ta sẽ chỉ cho ngươi. (4) Ông liền bỏ xứ người Canđê mà đến ở Kharan. Sau khi thân phụ qua đời, (5) Người không ban cho ông sản nghiệp nào ở đất này, dù một tấc đất cũng không, nhưng hứa cho ông cũng như cho dòng dõi ông được chiếm hữu đất này, mặc dầu bấy giờ ông không có con. (6) Thiên Chúa phán với ông rằng dòng dõi ông sẽ trú ngụ nơi đất khách quê người, và người ta sẽ bắt họ làm nô lệ và ngược đãi họ trong vòng bốn trăm năm. (7) Người lại phán: Nhưng Ta sẽ xét xử dân đã bắt chúng làm nô lệ, và sau đó chúng sẽ ra đi và sẽ thờ phượng Ta tại nơi này. (8) Rồi Người ban cho ông giao ước, mà dấu chỉ là phép cắt bì; và như thế, sau khi sinh ông Ixaác được tám ngày, ông làm phép cắt bì cho con; ông Ixaác cũng làm như thế cho ông Giacóp, và ông Giacóp đã làm như thế cho mười hai tổ phụ.
(9) "Các tổ phụ ghen ông Giuse nên đã bán ông cho người ta đưa sang Aicập. Nhưng Thiên Chúa vẫn ở với ông. (10) Người cứu ông khỏi mọi bước ngặt nghèo, cho ông được cảm tình của Pharaô, vua Aicập, và được khôn ngoan trước mặt nhà vua, khiến nhà vua đặt ông làm tể tướng cai quản nước Aicập và toàn thể hoàng cung. (11) Rồi xảy ra nạn đói trong cả nước Aicập và tại Canaan; đó là thời rất ngặt nghèo, và cha ông chúng ta không tìm đâu ra lương thực. (12) Khi ông Giacóp nghe nói bên Aicập có lúa mì, liền sai cha ông chúng ta đi lần thứ nhất. (13) Rồi đến lần thứ hai, thì ông Giuse cho các anh em nhận ra mình; bấy giờ vua Pharaô biết rõ gốc tích của ông Giuse. (14) Ông Giuse liền sai đi mời thân phụ là ông Giacóp, cùng với tất cả họ hàng là bảy mươi lăm người. (15) Vậy ông Giacóp xuống Aicập. Ông đã qua đời ở đó, và cha ông chúng ta cũng vậy. (16) Hài cốt các ông được đưa về Sikhem và táng trong ngôi mộ mà ông Ápraham đã bỏ tiền ra mua của con cái Khamo tại Sikhem.
(17) "Khi gần đến thời thực hiện lời Thiên Chúa đã long trọng hứa với ông Ápraham,thì dân sinh sôi nảy nở ra nhiều tại Aicập, (18) cho đến khi một vua khác không biết ông Giuse lên trị vì nước Aicập. (19) Vua này đối xử xảo quyệt với nòi giống chúng ta, ngược đãi cha ông chúng ta, đến nỗi bắt các cụ phải đem trẻ sơ sinh của mình bỏ đi, không cho chúng sống. (20) Chính vào thời đó, ông Môsê sinh ra, khôi ngô trước mặt Thiên Chúa. Ông được nuôi ba tháng ở nhà thân phụ. (21) Khi ông bị bỏ, thì con gái vua Pharaô rước về nuôi làm con trai mình. (22) Ông Môsê được dạy cho biết tất cả sự khôn ngoan của người Aicập, và là người đầy uy thế trong lời nói cũng như việc làm.
(23) "Khi được chẵn bốn mươi tuổi, ông nảy ra ý định thăm viếng các anh em mình là con cái Ítraen. (24) Thấy một người anh em bị một người Aicập làm hại, ông liền bênh, và để trả thù cho người bị áp bức, ông đánh chết người Aicập. (25) Ông tưởng các anh em ông sẽ hiểu rằng Thiên Chúa dùng tay ông để ban ơn cứu độ cho họ; nhưng họ thì không hiểu. (26) Ngày hôm sau, đang khi họ đánh lộn thì ông xuất hiện và dàn xếp cho đôi bên làm hoà. Ông nói: "Này các người, các người là anh em, tại sao lại xử tệ với nhau?" (27) Nhưng kẻ đang xử tệ với người đồng bào gạt anh ra và nói: Ai đã đặt ông làm người lãnh đạo và người xét xử chúng tôi ? (28) Hay là ông tính giết tôi, y như đã giết tên Aicập hôm qua ? (29) Nghe câu nói ấy, ông Môsê liền trốn đi và đến trú ngụ ở miền Mađian. Ở đó ông sinh được hai con trai.
(30) "Ðúng bốn mươi năm sau, một thiên sứ hiện ra với ông tại sa mạc núi Xinai, trong ngọn lửa của một bụi cây đang cháy. (31) Ông Môsê ngạc nhiên khi thấy thị kiến ấy. Ðang khi ông lại gần để xem cho rõ, thì có tiếng Chúa phán với ông: (32) Ta là Thiên Chúa của cha ông ngươi, Thiên Chúa của Ápraham, Ixaác và Giacóp. Ông Môsê phát run lên, không dám nhìn nữa. (33) Bấy giờ Chúa phán với ông: Cởi dép ở chân ra, vì nơi ngươi đang đứng là đất thánh ! (34) Ta đã thấy rõ cảnh khổ cực của dân Ta bên Aicập và đã nghe tiếng chúng kêu than, nên Ta xuống giải thoát chúng. Bây giờ, ngươi hãy đi ! Ta sai ngươi sang Aicập".
(35) "Ông Môsê này là người mà họ đã từng chối bỏ khi nói: Ai đã đặt ông làm người lãnh đạo và người xét xử ?, thì Thiên Chúa lại sai ông làm người lãnh đạo và cứu chuộc, qua trung gian vị thiên sứ đã hiện ra với ông trong bụi gai. (36) Chính ông đã đưa họ ra, bằng cách làm những điềm thiêng dấu lạ tại đất Aicập, trong Biển Ðỏ và trong sa mạc bốn mươi năm trường. (37) Chính ông Môsê đó là người đã nói với con cái Ítraen: Từ giữa đồng bào của anh em, Thiên Chúa sẽ cho đứng lên một ngôn sứ như tôi để giúp anh em. (38) Chính ông là người đã có mặt trong đại hội ở sa mạc, bên cạnh vị thiên sứ nói với ông trên núi Xinai, và bên cạnh cha ông chúng ta. Chính ông đã đón nhận những lời hằng sống để ban cho chúng ta. (39) Nhưng cha ông chúng ta đã không muốn vâng lời ông; họ đã gạt ông ra và trong lòng, họ đã quay lại Aicập. (40) Họ nói với ông Aharon: Xin ông làm cho chúng tôi những vị thần dẫn đầu chúng tôi, vì cái ông Môsê, người đã đưa chúng tôi ra khỏi đất Aicập, chúng tôi không biết chuyện gì đã xảy ra cho ông ta. (41) Trong những ngày ấy, họ đã làm tượng một con bê, họ dâng lễ tế cho ngẫu tượng ấy và ăn mừng công trình tay họ làm ra. (42) Bấy giờ Thiên Chúa xoay mặt họ đi, và để mặc họ thờ thiên binh, như có lời chép trong sách các ngôn sứ:
Hỡi nhà Ítraen,
bốn mươi năm trường trong
sa mạc
các ngươi có dâng lên Ta vật
hy sinh và lễ tế nào đâu
?
(43) Các ngươi đã kiệu lều
của thần Môlóc
và ngôi sao của thần Rêphan,
là những ảnh tượng các
ngươi đã làm ra để thờ;
nên Ta đã đày các ngươi
tới bên kia Babylon.
(44) "Khi ở trong sa mạc, cha ông chúng ta có Lều chứng ước, như Ðấng phán với ông Môsê đã truyền phải làm theo kiểu mẫu ông đã thấy. (45) Lều ấy, cha ông chúng ta đã kế thừa, và đã cùng với ôngf Giosuê, đem vào đất chiếm được của các dân ngoại mà Thiên Chúa đã đưổi đi khuất mắt các ông. Lều ở lại đó cho đến thời vua Ðavít. (46) Vua này đẹp lòng Thiên Chúa và đã xin được tìm một ngôi nhà cho Thiên Chúa của Giacóp. (47) Nhưng chính vua Salômôn mới xây nhà cho Người. (48) Tuy nhiên, Ðấng Tối Cao không ở trong những ngôi nhà do tay người phàm làm ra, như lời ngôn sứ đã nói:
(49) Chúa phán: Trời
là ngai của Ta,
còn đất là bệ dưới
chân Ta.
Các ngươi sẽ xây cho Ta nhà nào,
và nơi nào sẽ là chốn Ta
nghỉ ngơi ?
(50) Chẳng phải chính tay Ta đã làm
nên mọi sự ấy sao?
(51) "Hỡi những người cứng đầu cứng cổ, lòng và tai không cắt bì, các ông luôn luôn chống lại Thánh Thần. Cha ông các ông thế nào, thì các ông cũng vậy. (52) Có ngôn sứ nào mà cha ông các ông không bắt bớ ? Họ đã giết những vị tiên báo Ðấng Công Chính sẽ đến; còn các ông , nay đã trở thành những kẻ phản bội và sát hại Ðấng ấy. (53) Các ông là những người đã lãnh nhận Lề Luật do các thiên sứ công bố, nhưng lại chẳng tuân giữ".
(54) Khi nghe những lời ấy, lòng họ giận điên lên, và họ nghiến răng căm thù ông Têphanô.
(55) Ðược đầy ơn Thánh Thần, ông đăm đăm nhìn trời, thấy vinh quang Thiên Chúa, và thấy Ðức Giêsu đứng bên hữu Thiên Chúa. (56) Ông nói: "Kìa, tôi thấy trời mở ra, và Con Người đứng bên hữu Thiên Chúa". (57) Họ liền kêu lớn tiếng, bịt tai lại và nhất tề xông vào ông (58) và lôi ra ngoài thành mà ném đá. Các nhân chứng để áo mình dưới chân một thanh niên tên là Saolô. (59) Họ ném đá ông Têphanô, đang lúc ông cầu xin rằng: "Lạy Chúa Giêsu, xin nhận lấy hồn con". (60) Rồi ông quỳ xuống, kêu lớn tiếng: "Lạy Chúa, xin đừng chấp họ tội này". Nói thế rồi, ông an nghỉ.
(1) Phần ông Saolô, ông tán thành việc giết ông Têphanô.
Hồi ấy, Hội Thánh tại Giêrusalem trải qua một cơn bắt bớ dữ dội. Ngoài các Tông Ðồ ra, mọi người đều phải phải tản mác về các vùng quê miền Giuđê và Samari.
(2) Có mấy người sùng đạo chôn cất ông Têphanô và khóc thương ông thảm thiết.
(3) Còn ông Saolô thì cứ phá hoại Hội Thánh: ông đến từng nhà, lôi cả đàn ông lẫn đàn bà đi tống ngục.
(4) Vậy những người phải tản mác này đi khắp nơi loan báo lời Chúa.
(5) Ông Philípphê xuống một thành miền Samari và rao giảng Ðức Kitô cho dân cư ở đó. (6) Ðám đông một lòng chú ý đến những điều ông Philípphê giảng, bởi được nghe đồn và được chứng kiến những dấu lạ ông làm. (7) Thật vậy, các thần ô uế vừa kêu lớn tiếng vừa xuất khỏi nhiều người trong số những kẻ bị chúng ám. Nhiều người tê bại và tàn tật được chữa lành. (8) Trong thành, người ta rất vui mừng.
(9) Trong thành ấy, có một người tên là Simon, vốn dùng phù phép làm cho dân Samari kinh ngạc. Ông ta xưng mình là một nhân vật quan trọng, (10) và mọi người từ nhỏ đến lớn đều chú ý đến ông. Họ nói: "Ông này là Quyền năng của Thiên Chúa, Quyền năng được gọi là 'Vĩ đại'". (11) Họ chú ý đến ông, vì từ khá lâu ông đã dùng phù phép làm cho họ kinh ngạc. (12) Nhưng khi họ tin lời ông Philíphê loan báo Tin Mừng về Nước Thiên Chúa và về danh Ðức Giêsu Kitô, thì họ đã chịu phép rửa, có cả đàn ông lẫn đàn bà. (13) Cả ông simon nữa cũng đã tin theo, và sau khi chịu phép rửa, ông cứ theo sát ông Philípphê, và kinh ngạc vì được thấy các dấu lạ và các phép mầu vĩ đại xảy ra.
(14) Các Tông Ðồ ở Giêrusalem nghe biết dân miền Samari đã đón nhận lời Thiên Chúa, thì cử ông Phêrô và ông Gioan đến với họ. (15) Khi đến nơi, hai ông cầu nguyện cho họ, để họ nhận được Thánh thần. (16) Vì Thánh Thần chưa ngự xuống một ai trong nhóm họ: họ mới chỉ chịu phép rửa nhân danh Chúa Giêsu. (17) Bấy giờ hai ông đặt tay trên họ, và họ nhận được Thánh Thần.
(18) Ông Simon thấy khi các Tông Ðồ đặt tay, thì Thánh Thần được ban xuống, nên ông đem tiền đến biếu các ông (19) và nói: "Xin cũng ban quyền ấy cho tôi nữa, để tôi đặt tay cho ai thì người ấy nhận được Thánh Thần". (20) Nhưng ông Phêrô đáp: "Tiền bạc của anh tiêu tan luôn với anh cho rồi, vì anh tưởng có thể lấy tiền mà mua ân huệ của Thiên Chúa ! (21) Chẳng có phần chia cho anh, cũng chẳng có phần thừa kế trong việc này đâu, vì lòng anh không ngay thẳng trước mặt Thiên Chúa. (22) Vậy anh hãy sám hối về việc xấu ấy của anh, và cầu xin Chúa, may ra Người sẽ tha cho anh tội đã nghĩ như thế trong lòng. (23) Thật vậy, tôi thấy anh đang ứ đầy mật đắng và đang bị tội ác trói buộc". (24) Ông Simon thưa: "Xin hai ông cầu cùng Chúa cho tôi, để không điều nào trong những điều các ông đã nói giáng xuống trên tôi".
(25) Sau khi đã long trọng làm chứng và nói lời Chúa, hai Tông Ðồ trở về Giêrusalem và loan Tin Mừng cho nhiều làng miền Samari.
(26) Thiên sứ của chúa nói với ông Philípphê: "Ðứng lên, đi về hướng nam, theo con đường từ Giêrusalem xuống Átda; con đường này vắng". (27) Ông đứng lên đi. Và kìa một viên thái giám người Êthióp. Làm quan lớn trong triều của bà Canđakê, nữ hoàng nước Êthióp. Ông này làm tổng quản kho bạc của bà. Ông đã lên Giêrusalem hành hương (28) và bấy giờ đang trên đường về. Ông ngồi trên xe của ông, đang đọc sách ngôn sứ Isaia. (29) Thần Khí nói với ông Philípphê: "Tiến lên, đuổi kịp xe đó". (30) Ông hỏi: "Ngài có hiểu điều ngài đọc không ?" (31) Ông quan đáp: "Mà làm sao tôi hiểu được, nếu không có người dẫn giải ?" Rồi ông mời ông Philípphê lên ngồi với mình. (32) Ðoạn Kinh Thánh ông đang đọc là đoạn này:
Như chiên bị đem
đi làm thịt,
như cừu câm nín trước
mặt kẻ xén lông,
Người chẳng hề mở miệng.
(33) Bởi Người bị hạ xuống,
nên quyền lợi của Người
đã bị tước đi,
dòng dõi Người, ai sẽ kể
lại,
vì mạng sống của Người
đã bị lấy di khỏi mặt đất.
(34) Viên thái giám ngỏ lời với ông Philípphê: "Xin ông cho biết: vị ngôn sứ nói thế về ai ? Về chính mình hay về một ai khác ?" (35) Ông Philípphê lên tiếng, và khởi từ đoạn Kinh Thánh ấy mà loan báo Tin Mừng Ðức Giêsu cho ông.
(36) Dọc đường, các ông tới một chỗ có nước, viên thái giám mới nói: "Sẵn nước đây, có gì ngăn trở tôi chịu phép rửa không ? (37) Ông Philíphê đáp: "Nếu ngài tin hết lòng, thì được". Viên thái giám thưa: "Tôi tin Ðức Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa". (38) Ông truyền dừng xe lại. Ông Philípphê và viên thái giám, cả hai cũng xuống chỗ có nước, và ông Philípphê làm phép rửa cho ông quan. (39) Khi hai ông lên khỏi nước, Thần Khí Chúa đem ông Philípphê đi mất, và viên thái giám không còn thấy ông nữa. Nhưng ông tiếp tục cuộc hành trình, lòng đầy hoan hỷ. (40) Còn ông Philipphê thì người ta gặp thấy ở Áđót. Ông loan báo Tin Mừng cho mọi thành thị ông đi qua, cho tới khi đến Xêdarê.
(1) Ông Saolô vẫn còn hằm hằm những đe doạ và giết chóc đối với các môn đệ Chúa, nên đã tới gặp thượng tế (2) xin thư giới thiệu đến các hội đường ở Ðamát, để nếu thấy những người theo đạo, bất luận đàn ông hay đàn bà, thì bắt trói giải về Giêrusalem.
(3) Vậy đang khi ông đi đường và đến gần Ðamát, thì bỗng nhiên có một luồng ánh sáng từ trời chiếu xuống bao phủ lấy ông. (4) Ông ngã xuống đất và nghe có tiếng nói với ông: "Sa-un, Sa-un, tại sao ngươi bắt bớ Ta ?" (5) Ông nói: "Thưa Ngài, Ngài là ai ?" Người đáp: "Ta là Giêsu mà ngươi đang bắt bớ. (6) Nhưng ngươi hãy đứng dậy, vào thành, và người ta sẽ nói cho ngươi biết ngươi phải làm gì". (7) Những người cùng đi với ông dừng lại, sững sờ: họ nghe có tiếng nói, nhưng không trông thấy ai. (8) Ông Saolô từ dưới đất đứng dậy, mắt thì mở nhưng không thấy gì. Người ta phải cầm tay dắt ông vào Ðamát. (9) Suốt ba ngày, ông không nhìn thấy, cũng chẳng ăn, chẳng uống.
(10) Bấy giờ ở Ðamát có một môn đệ tên là Khanania. Trong một thị kiến, Chúa phán với ông: "Khanania !" Ông thưa: "Dạ, lạy Chúa, con đây". (11) Chúa bảo ông: "Ðứng lên, đi tới phố gọi là phố Thẳng, đến nhà Giuđa tìm một người tên là Saolô quê ở Tácxô, vì kìa, người ấy đang cầu nguyện (12) và thấy một ngưòi tên là Khanania đi vào, đặt tay trên mình để làm cho mình lại thấy được". (13) Ông Khanania thưa: "Lạy Chúa, con đã nghe lắm kẻ nói về người ấy, về tất cả những điều ác người ấy đã làm cho các thánh Chúa tại Giêrusalem. (14) Còn ở đây, người ấy được các thượng tế cho quyền bắt trói tất cả những ai kêu cầu danh Chúa". (15) Nhưng Chúa phán với ông: "Cứ đi, vì người ấy là lợi khí Ta chọn để mang danh Ta đến trước mặt các dân ngoại, các vua chúa và con cái Ítraen. (16) Thật vậy, chính Ta sẽ chỉ cho người ấy thấy tất cả những đau khổ người ấy phải chịu vì danh Ta". (17) Ông Khanania liền đi; ông vào nhà, đặt tay trên ông Saolô và nói: "Anh Sa-un, Chúa đã sai tôi đến đây, Người là đức Giêsu, Ðấng đã hiện ra với anh trên đường anh tới đây. Người sai tôi đến để anh lại thấy được và để anh được đầy Thánh Thần". (18) Lập tức có những cái gì như vảy bong ra khỏi mắt ông Saolô, và ông lại thấy được. Ông đứng dậy và chịu phép rửa. (19) Rồi ông ăn và khoẻ lại.
Ông ở lại Ðamát với các môn đệ mấy hôm, (20) rồi lập tức ông bắt đầu rao giảng Ðức Giêsu trong các hội đường, rằng Người là Con Thiên Chúa. (21) Mọt người nghe ông giảng đều kinh ngạc và nói: "Ông này chẳng phải là người Giêrusalem vẫn tiêu diệt những ai kêu cầu danh Giêsu sao ? Chẳng phải ông đã đến đây với mục đích bắt trói họ giải về cho các thượng tế sao? " (22) Nhưng ông Saolô càng thêm vững mạnh, và ông làm cho người Dothái ở Ðamát phải bẽ mặt, khi minh chứng rằng Ðức Giêsu là Ðấng Mêsia.
(23) Sau một thời gian khá lâu, người Dothái cùng nhau bàn kế giết ông Saolô; (24) nhưng ông biết được âm mưu của họ. Thậm chí người ta canh giữ các cửa thành ngày đêm, để giết ông. (25) Nhưng ban đêm, các môn đệ ông đã đưa ông qua tường thành bằng các đặt ông ngồi trong một cái thúng rồi dòng dây thả xuống.
(26) Khi tới Giêrusalem, ông Saolô tìm cách nhập đoàn với các môn đệ. Nhưng mọi người vẫn còn sợ ông, vì họ không tin ông là một môn đệ. (27) Ông Banaba liền đứng ra bảo lãnh đưa ông Salolô đến gặp các Tông đồ, và tường thuật cho các ông nghe chuyện ông ấy được thấy Chúa hiện ra trên đường và phán dạy làm sao, cũng như việc ông ấy đã mạnh dạn rao giảng nhân danh Ðức Giêsu tại Ðamát thế nào. (28) Từ đó ông Saolô cùng với các Tông Ðồ đi lại hoạt động tại Giêrusalem. Ông mạnh dạn rao giảng nhân danh Chúa. (29) Ông thường đàm đạo và tranh luận với những người Dothái theo văn hoá Hylạp. Nhưng họ tìm cách giết ông. (30) Các anh em biết thế, liền dẫn ông xuống Xêdarê và tiễn ông lên đường về Tácxô.
(31) Hồi ấy, trong khắp miền Giuđê, Galilê và samaria, Hội Thánh được bình an, được xây dựng vững chắc và sống trong niềm kính sợ Chúa, và ngày một thêm đông, nhờ Thánh Thần nâng đỡ.
(32) Bấy giờ ông Phêrô rảo khắp nơi, xuống thăm cả các thánh cư ngụ tại Lốt. (33) Nơi đây ông gặp thấy một người tên là Ênê liệt giường đã tám năm, vì anh bị tê bại. (34) Ông Phêrô nói với anh ta: "Anh Ênê, Ðức Giêsu Kitô chữa anh khỏi. Anh hãy đứng dậy và tự dọn giường lấy". Lập tức anh đứng dậy. (35) Tất cả những người cư ngụ ở Lốt và đồng bằng Saron thấy anh, và họ trở lại cùng Chúa.
(36) Ở Giaphô, trong số các môn đệ có một bà tên là Tabitha, có nghĩa là Linh Dương. Bà này đầy công đức vì những việc lành và bố thí bà đã làm. (37) Trong những ngày ấy, bà mắc bệnh và qua đời. Người ta tắm xác cho bà và đặt ở lầu trên. (38) Vì Lốt gần Giaphô, nên khi các môn đệ nghe biết ông Phêrô ở đó, liền cử hai người đến mời: "Xin ông đến với chúng tôi, đừng trì hoãn".
(39) Ông Phêrô đứng dậy cùng đi với họ. Tới nơi, người ta đưa ông lên lầu trên. Các bà goá xúm lại quanh ông, vừa khóc vừa cho ông xem những áo dài và áo choàng bà Linh Dương đã may khi còn sống với họ. (40) Ông Phêrô cho mọi người ra ngoài, rồi quỳ xuống cầu nguyện. Sau đó, ông quay lại về phía thi hài và ra lệnh: "Bà Tabitha, hãy đứng dậy !" Bà ấy mở mắt ra, và khi thấy ông Phêrô, liền ngồi dậy. (41) Ông đưa tay đỡ bà đứng dậy, rồi gọi các thánh và các bà goá lại và cho thấy bà đang sống. (42) Cả thành Giaphô đều biết việc này, và có nhiều người tin vào Chúa.
(43) Ông Phêrô ở lại Giaphô khá lâu, tại nhà một người thợ thuộc da tên là Simon
(1) Ở Xêdarê có một người tên là Conêliô làm đại đội trưởng thuôïc cơ đội gọi là cơ đội Italia. (2) Ông là người đạo đức và kính sợ Thiên Chúa, cũng như cả nhà ông; ông rộng tay bố thí cho dân và luôn luôn cầu nguyện cùng Thiên Chúa.
(3) Một hôm, vào khoảng giờ thứ chín, ông thấy rõ ràng trong một thị kiến một thiên sứ của Thiên Chúa vào nhà ông và nói: "Conêliô !" (4) Ông nhìn thẳng vào thiên sứ và phát sợ, ông nói: "Thưa Ngài, có việc chi vậy ?" Thiên sứ đáp: "Lời cầu nguyện và việc bố thí của ông đã thấu toà Thiên Chúa khiến Người nhớ đến ông. (5) Vậy bây giờ ông hãy sai người đi Giaphô mời một người tên là Simon, cũng gọi là Phêrô. (6) Ông ấy trọ tại nhà một người thợ thuộc da tên là Simon, ở gần bờ biển". (7) Khi vị thiên sứ nói với ông Conêliô vừa đi khỏi, ông gọi hai người nhà và một người lính đạo đức trong số những người vẫn ở dưới quyền ông. (8) Ông kể cho họ nghe tất cả sự việc, rồi sai họ đi Giaphô.
(9) Hôm sau, đang khi họ đi đường và đến gần Giaphô, thì ông Phêrô lên sân thượng cầu nguyện; lúc đó, vào khoảng giờ thứ sáu. (10) Ông thấy đói và muốn ăn. Ðang khi người ta dọn bữa thì ông xuất thần. (11) Ông thấy trời mở ra và một vật gì sà xuống, trông như một tấm khăn lớn buộc bốn góc, đang được thả xuống đất. (12) Trong đó có mọi giống vật bốn chân và rắn rết sống trên đất, cùng mọi thứ chim trời. (13) Có tiếng phán bảo ông: "Phêrô, đứng dậy, làm thịt mà ăn !" (14) Ông Phêrô thưa: "Lạy Chúa, không thể được, vì không bao giờ con ăn những gì ô uế và không thanh sạch". (15) Lại có tiếng phán bảo ông lần thứ hai: "Những gì Thiên Chúa đã tuyên bố là thanh sạch, thì người chớ gọi là ô uế". (16) Việc ấy xảy ra đến ba lần, và lập tức vật ấy được đưa lên trời.
(17) Ông Phêrô còn đang phân vân tự hỏi thị kiến ông vừa thấy có ý nghĩa gì, thì những người ông Conêliô sai đi đã hỏi ra được nhà ông Simon, và họ đang đứng trước cổng. (18) Họ lớn tiếng hỏi có phải ông Simon, cũng gọi là Phêrô, trọ ở đấy không. (19) Ông Phêrô vẫn còn phân vân về thị kiến, thì Thần Khí bảo ông : "Kìa có ba người đang tìm ngươi. (20) Ðứng lên, xuống mà đi với họ, đừng ngần ngại gì, vì chính Ta đã sai họ đến". (21) Ông Phêrô xuống với những người ấy và nói: "đây chính tôi là người các ông đang tìm. Vì lý do nào các ông đến đây ?" (22) Họ đáp: "Ông đại đội trưởng Conêliô, một người công chính, kính sợ Thiên chúa và được toàn dân Dothái chứng nhận là tốt, đã được một thánh thiên sứ linh báo là phải cho mời ông đến nhà, để được nghe các lời ông dạy". (23) Ông Phêrô liền rước họ vào và mời họ nghỉ lại.
Hôm sau, ông lên đường với họ; có mấy người anh em ở Giaphô cùng đi với ông. (24) Hôm sau nữa, ông vào Xêdarê. Bấy giờ ông Conêliô đang đợi; ông đã cho mời thân bằng quyến thuộc đến. (25) Khi ông Phêrô bước vào, thì ông Conêliô liền ra đón và phủ phục dưới chân ông mà bái lạy. (26) Nhưng ông Phêrô đỡ ông ấy lên và nói: "Xin ông đứng dậy, vì chính tôi đây cũng chỉ là người phàm". (27) Rồi ông vừa nói chuyện với ông Conêliô, vừa đi vào. Thấy có đông người tụ họp ở đó, (28) ông nói với họ: "Quý vị thừa biết: giao du hay vào nhà một người khác chủng tộc là điều cấm kỵ đối với người Dothái. Nhưng tôi thì Thiên chúa đã cho tôi thấy là không được gọi ai là ô uế hay không thanh sạch. (29) Vì thế khi được mời, tôi đã đến mà không hề chống cãi. Vậy tôi xin hỏi: vì lẽ nào quý vị đã mời tôi đến ?" (30) Ông Conêliô trả lời: "Cách đây bốn hôm, vào khảng giờ này, lúc tôi đang đọc kinh giờ chín tại nhà, bỗng có một người đứng trước mặt tôi, y phục rực rỡ. (31) Người ấy nói với tôi: "Ông Conêliô, Thiên Chúa đã nhận lời cầu nguyện của ông và nhớ đến việc bố thí của ông. (32) Vậy ông hãy sai người đi Giaphô mời ông Simon, cũng gọi là Phêrô; ông ấy trọ tại nhà ông Simon, thợ thuộc da, ở gần bờ biển". (33) Lập tức tôi đã sai người đến mời ông, và ông đã có lòng tốt đến đây. Vậy bây giờ tất cả chúng tôi đang ở trước mặt Thiên Chúa, để nghe tất cả những gì Người đã truyền cho ông".
(34) Bấy giờ ông Phêrô lên tiếng nói: "Quả thật, tôi biết rõ Thiên Chúa không thiên vị người nào. (35) Nhưng hễ ai kính sợ Thiên Chúa và ăn ngay ở lành, thì bất cứ họ thuộc dân tộc nào, cũng đều được Người tiếp nhận.
(36) "Người đã gửi đến cho con cái nhà Ítraen lời loan báo Tin Mừng bình an, nhờ Ðức Giêsu Kitô, là Chúa của mọi người. (37) Quý vị biết rõ biến cố đã xảy ra trong toàn cõi Giuđê, bắt đầu từ miền Galilê, sau phép rửa mà ông Gioan rao giảng. (38) Quý vị biết rõ: Ðức Giêsu xuất thân từ Nadarét, Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng mà xức dầu tấn phong Người. Ði tới đâu là Người thi ân giáng phúc tới đó, và chữa lành mọi kẻ bị ma quỷ kiềm chế, bởi vì Thiên Chúa ở với Người. (39) Còn chúng tôi đây xin làm chứng về mọi việc Người đã làm trong cả vùng dân Dothái và tại chính Giêrusalem. Họ đã treo Người lên cây gỗ mà giết đi. (40) Ngày thứ ba, Thiên Chúa đã làm cho Người chỗi dậy, và cho Người xuất hiện tỏ tường, (41) không phải trước mặt toàn dân, nhưng trước mặt những chứng nhân Thiên Chúa đã tuyển chọn từ trước, là chúng tôi, những kẻ đã được cùng ăn cùng uống với Người, sau khi Người từ cõi chết sống lại. (42) Người truyền cho chúng tôi phải rao giảng cho dân, và long trọng làm chứng rằng chính Người là Ðấng Thiên Chúa đặt làm thẩm phán, để xét xử kẻ sống và kẻ chết, (43) Tất cả các ngôn sứ đều làm chứng về Người và nói rằng phàm ai tin vào Người thì sẽ nhờ danh Người mà được ơn tha tội".
(44) Ông Phêrô còn đang nói những điều đó, thì Thánh Thần đã ngự xuống trên tất cả những người đang nghe lời Thiên Chúa. (45) Những tín hữu thuôïc giới cắt bì cùng đến đó với ông Phêrô đều kinh ngạc vì thấy Thiên Chúa cũng ban Thánh Thần xuống trên cả các dân ngoại nữa, (46) bởi họ nghe những người này nói các thứ tiếng và tán dương Thiên Chúa. Bấy giờ ông Phêrô nói rằng: (47) "Những người này đã nhận được Thánh Thần cũng như chúng ta, thì ai có thể ngăn cản chúng ta lấy nước làm phép rửa cho họ ?" (48) Rồi ông truyền làm phép rửa cho họ nhân danh Ðức Giêsu Kitô. Sau đó họ xin ông ở lại ít ngày.
(1) Các Tông Ðồ và các anh em ở miền Giuđê nghe tin là cả dân ngoại cũng đã đón nhận lời Thiên Chúa. (2) Khi ông Phêrô lên Giêrusalem, các người thuộc giới cắt bì chỉ trích ông, (3) họ nói: "Ông đã vào nhà những kẻ không cắt bì và cùng ăn uống với họ !" (4) Bấy giờ ông Phêrô bắt đầu trình bày cho họ đầu đuôi sự việc, ông nói: (5) "Tôi đang cầu nguyện tại thành Giaphô, thì trong lúc xuất thần, tôi thấy thị kiến này: có một vật gì sà xuống đến tận chỗ tôi. (6) Nhìn chăm chú và xem xét kỹ, tôi thấy các giống vật bốn chân sống trên đất, các thú rừng, rắn rết và chim trời. (7) Và tôi nghe có tiếng phán bảo tôi: "Phêrô, đứng dậy, làm thịt mà ăn !" (8) Tôi đáp: "Lạy Chúa, không thể được, vì những gì ô uế và không thanh sạch không bao giờ lọt vào miệng con !" (9) Có tiếng từ trời phán lần thứ hai: "Những gì Thiên Chúa đã tuyên bố là thanh sạch, thì ngươi chớ gọi là ô uế !" (10) Việc ấy xảy ra đến ba lần, rồi tất cả lại được kéo lên trời.
(11) "Và kìa, ngay lúc đó, có ba người đến nhà chúng tôi ở: họ được sai từ Xêdarê đến gặp tôi. (12) Thần Khí bảo tôi đi với họ, đừng ngần ngại gì. Có sáu anh em đây cùng đi với tôi. Chúng tôi đã vào nhà ông Conêliô. (13) Ông này thuật lại cho chúng tôi nghe việc ông đã thấy thiên sứ đứng trong nhà ông và bảo: "Hãy sai người đi Giaphô mời ông Simon, cũng gọi là Phêrô. (14) Ông ấy sẽ nói với ông những lời nhờ đó ông và cả nhà ông sẽ được cứu độ."
(15) "Tôi vừa mới bắt đầu nói, thì Thánh Thần đã ngự xuống trên họ, như đã ngự xuống trên chúng ta lúc ban đầu. (16) Tôi sực nhớ lại lời Chúa nói rằng: "Ông Gioan thì làm phép rửa bằng nước, còn anh em thì sẽ được rửa trong Thánh Thần." (17) Vậy, nếu Thiên Chúa đã ban cho họ cùng một ân huệ như Người đã ban cho chúng ta, vì chúng ta tin vào Chúa Giêsu Kitô, thì tôi là ai mà dám ngăn cản Thiên Chúa ?"
(18) Nghe thế, họ mới chịu im, và họ tôn vinh Thiên Chúa mà nói: "Vậy ra Thiên Chúa cũng ban cho các dân ngoại ơn sám hối để được sự sống !".
(19) Vậy những người phải tản mác vì cuộc bách hại xảy ra nhân vụ ông Têphanô, đi đến tận miền Phênixi, đảo Sýp và thành Antiôkhia. Họ không rao giảng lời Chúa cho ai ngoài người Dothái. (20) Nhưng trong nhóm, có mấy người gốc Sýp và Kyrênê; những người này, khi đến Antiôkhia, đã giảng cho cả người Hylạp nữa, loan Tin Mừng Chúa Giêsu cho họ. (21) Vì có bàn tay Chúa ở với họ, nên một số đông đã tin và trở lại cùng Chúa.
(22) Tin ấy đến tai Hội Thánh tại Giêrusalem, nên người ta cử ông Banaba đi Antiôkhia. (23) Khi tới nơi và thấy ơn Thiên chúa như vậy, ông Banaba mừng rỡ và khuyên nhủ ai nấy bền lòng gắn bó cùng Chúa. (24) Ông là người tốt, đầy ơn Thánh Thần và lòng tin. Có thêm một đám rất đông theo Chúa.
(25) Ông Banaba trẩy đi Tácxô tìm ông Saolô. (26) Tìm được rồi, ông đưa ông Saolô đến Antiôkhia. Hai ông cùng làm việc trong Hội Thánh ấy suốt một năm và giảng dạy cho rất nhiều người. Chính tại Antiôkhia mà lần đầu tiên các môn đệ được gọi là Kitô hữu.
(27) Trong những ngày ấy, có những ngôn sứ từ Giêrusalem xuống Antiôkhia. (28) Một trong những người ấy tên là Agabô đứng lên và được Thần Khí soi sáng, báo trước là sẽ có nạn đói lớn trong khắp cả thiên hạ; đó là nạn đói xảy ra dưới thời hoàng đế Cơlauđiô. (29) Các môn đệ mới quyết định là mỗi người tuỳ theo khả năng, sẽ gửi quà giúp đỡ anh em ở miền Giuđê. (30) Và họ đã làm việc ấy: gửi đến cho hàng kỳ mục qua tay ông Banaba và ông Saolô.
(1) Thời kỳ ấy, vua Hêrôđê ra tay ngược đãi một số người trong Hội Thánh. (2) Nhà vua đã cho chém đầu ông Giacôbê là anh ông Gioan. (3) Thấy việc đó làm vừa lòng người Dothái, nhà vua lại cho bắt cả ông Phêrô nữa. Bấy giờ đang là tuần lễ Bánh Không Men. (4) Bắt được rồi, nhà vua truyền tống ngục và giao cho bốn tốp lính canh gác, mỗi tốp gồm bốn người, định sau lễ Vượt Qua sẽ điệu ông ra cho dân chúng. (5) Ðang khi ông Phêrô bị giam giữ như thế, thì Hội Thánh không ngừng dâng lên Thiên Chúa lời cầu nguyện khẩn thiết cho ông.
(6) Trong đêm trước ngày bị vua Hêrôđê đem ra xử, ông Phêrô ngủ giữa hai người lính, và bị khoá vào hai cái xiềng. Trước cửa ngục lại có lính canh. (7) Và kìa, thiên sứ của Chúa đứng bên cạnh ông, và ánh sáng chói rực cả phòng giam. Thiên sứ đập vào cạnh sườn ông Phêrô, đánh thức ông và bảo: "Ðứng dậy mau đi !" Xiềng xích liền tuột khỏi tay ông. (8) Thiên sứ nói tiếp: "Thắt lưng lại và xỏ dép vào !" Ông làm như vậy. Rồi thiên sứ lại bảo ông: "Khoác áo choàng vào và đi theo tôi !" (9) Ông liền theo ra, mà không biết việc thiên sứ làm đó có thật hay không, cứ tưởng là mình thấy một thị kiến. (10) Qua vọng canh thứ nhất, rồi vọng canh thứ hai, thiên sứ và ông tới trước cửa sắt thông ra phố. Cửa tự động mở ra trước mặt hai người. Ra đến ngoài, đi hết một đường phố, thì bỗng nhiên thiên sứ rời khỏi ông. (11) Lúc ấy ông Phêrô mới hoàn hồn và nói: "Bây giờ tôi biết thực sự là Chúa đã sai thiên sứ của Người đến, và Người đã cứu tôi thoát khỏi tay vua Hêrôđê, và khỏi mọi điều dân Dothái mong muốn tôi phải chịu".
(12) Ý thức được như vậy, ông đi đến nhà bà Maria, mẹ của ông Gioan, cũng gọi là Máccô; ở đó có khá đông người đang tụ họp và cầu nguyện. (13) Ông đập cổng thì có một người tớ gái tên là Rôđê ra nghe ngóng. (14) Nhận ra tiếng ông Phêrô, cô mừng quýnh, không mở cổng, mà lại chạy vào báo tin ông Phêrô đang đứng ngoài cổng. (15) Người ta bảo cô: "Ðồ khùng !" Nhưng cô ấy cứ quả quyết là đúng như vậy. Họ nói: "Thiên sứ của ông ấy đấy !" (16) Trong khi đó, ông Phêrô tiếp tục đập cổng. Mở cổng ra, thấy ông, họ kinh ngạc. (17) Ông giơ tay làm hiệu bảo họ im lặng, rồi kể cho họ nghe Chúa đã đưa ông ra khỏi tù thế nào. Ông nói: "Xin báo tin này cho ông Giacôbê và cho các anh em". Rồi ông ra đi, đến một nơi khác.
(18) Sáng ra, bọn lính nhốn nháo không ít: ông Phêrô đã ra sao rồi ? (19) Vua Hêrôđê cho truy nã ông: bởi không tìm ra, nhà vua tra hỏi lính canh và ra lệnh điệu họ đi xử. Rồi nhà vua bỏ miền Giuđê xuống ở Xêdarê.
(20) Nhà vua đang tức tối với dân thành Tia và Xiđon. Họ đồng tâm nhất trí đến yết kiến nhà vua. Sau khi đã mua chuộc được quan thị vệ của vua là Bơláttô, họ cầu hoà, vì lãnh thổ của họ phải nhờ lãnh thổ của nhà vua cung cấp lương thực. (21) Ðến ngày hẹn, vua Hêrôđê mặc cẩm bào, ngồi trên ngai, ngỏ lời với họ. (22) Dân hoan hô: "Tiếng thần minh, chứ không phải tiếng người phàm !" (23) Nhưng ngay lúc đó, thiên sứ của Chúa đánh phạt nhà vua, vì nhà vua đã không tôn vinh Thiên Chúa. Nhà vua bị giòi bọ rúc rỉa nên đã tắt thở.
(24) Trong khi ấy, lời Thiên Chúa vẫn lớn lên và phát triển. (25) Còn ông Banaba và ông Saolô, sau khi đã chu toàn công việc phục vụ tại Giêrusalem thì trở về, đem theo ông Gioan, cũng gọi là Máccô.