(19) Và đây là lời chứng của ông Gioan, khi người Dothái từ Giêrusalem cử một số tư tế và mấy thầy Lêvi đến hỏi ông: "Ông là ai?" (20) Ông tuyên bố thẳng thắn, ông tuyên bố rằng: "Tôi không phải là Ðấng Kitô". (21) Họ lại hỏi ông: "Vậy thì thế nào? Ông có phải là ông Êlia không?" Ông nói: "Không phải." - "Ông có phải là vị ngôn sứ chăng?" Ông đáp: "Không." (22) Họ liền nói với ông: "Thế ông là ai, để chúng tôi còn trả lời cho những người đã cử chúng tôi đến? Ông nói gì về chính ông?" (23) Ông nói:
Tôi là tiếng người
hô trong hoang địa:
Hãy sửa đường cho thẳng
để Ðức Chúa đi,
như ngôn sứ I-sai-a đã nói. (24) Trong nhóm được cử đi, có mấy người thuộc phái Pharisêu. (25) Họ hỏi ông: "Vậy tại sao ông làm phép rửa, nếu ông không phải là Ðấng Kitô, cũng không phải là ông Êlia hay vị ngôn sứ?" (26) Ông Gioan trả lời: "Tôi đây làm phép rửa trong nước. Nhưng có một vị đang ở giữa các ông mà các ông không biết. (27) Người sẽ đến sau tôi và tôi không đáng cởi quai dép cho Người." (28) Các việc đó đã xảy ra tại Bêtania, bên kia sông Giođan, nơi ông Gioan làm phép rửa.
(29) Hôm sau, ông Gioan thấy Ðức Giêsu tiến về phía mình, liền nói: "Ðây là Chiên Thiên Chúa, đây Ðấng xóa bỏ tội trần gian. (30) Chính Người là Ðấng tôi đã nói tới khi bảo rằng:
Có người đến
sau tôi,
nhưng trổi hơn tôi,
vì có trước tôi.
(31) Tôi đã không biết Người, nhưng để Người được tỏ ra cho dân Ítraen, tôi đến làm phép rửa trong nước." (32) Ông Gioan còn làm chứng: "Tôi đã thấy Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời xuống và ngự trên Người. (33) Tôi đã không biết Người. Nhưng chính Ðấng sai tôi đi làm phép rửa trong nước đã bảo tôi: "Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai, thì người đó chính là Ðấng làm phép rửa trong Thánh Thần". (34) Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người là Ðấng Thiên Chúa tuyển chọn".
(35) Hôm sau, ông Gioan lại đang đứng với hai người trong nhóm môn đệ của ông. (36) Thấy Ðức Giêsu đi ngang qua, ông lên tiếng nói: "Ðây là Chiên Thiên Chúa". (37) Hai môn đệ nghe ông nói, liền đi theo Ðức Giêsu. (38) Ðức Giêsu quay lại, thấy các ông đi theo mình, thì hỏi: "Các anh tìm gì thế?" Họ đáp: "Thưa Rápbi (nghĩa là thưa Thầy), Thầy ở đâu?" (39) Người bảo họ: "Ðến mà xem". Họ đã đến xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy. Lúc đó vào khoảng bốn giờ chiều.
(40) Ông Anrê, anh ông Simon Phêrô, là một trong hai người đã nghe ông Gioan nói và đi theo Ðức Giêsu. (41) Trước hết, ông gặp em mình là ông Simon và nói: "Chúng tôi đã gặp Ðấng Mêsia" (nghĩa là Ðấng Kitô). (42) Rồi ông dẫn em mình đến gặp Ðức Giêsu. Ðức Giêsu nhìn ông Simon và nói: "Anh là Simon, con ông Gioan, anh sẽ được gọi là Kêpha" (tức là Phêrô).
(43) Hôm sau, Ðức Giêsu quyết định đi tới miền Galilê. Người gặp ông Philípphê và nói: "Anh hãy theo tôi". (44) Ông Philípphê là người Bétxaiđa, cùng quê với các ông Anrê và Phêrô.
(45) Ông Philípphê gặp ông Nathanaen và nói: "Ðấng mà sách Luật Môsê và các ngôn sứ nói tới, chúng tôi đã gặp: đó là ông Giêsu, con ông Giuse, người Nadarét". (46) Ông Nathanaen liền bảo: "Từ Nadarét, làm sao có cái gì hay được?" Ông Philípphê trả lời: "Cứ đến mà xem!" (47) Ðức Giêsu thấy ông Nathanaen tiến về phía mình, liền nói về ông rằng: "Ðây đích thật là một người Ítraen, lòng dạ không có gì gian dối". (48) Ông Nathanaen hỏi Người: "Làm sao Ngài lại biết tôi?" Ðức Giêsu trả lời: "Trước khi Philípphê gọi anh, lúc anh đang ở dưới cây vả, tôi đã thấy anh rồi". (49) Ông Nathanaen nói: "Thưa Thầy, chính Thầy là Con Thiên Chúa, chính Thầy là Vua Ítraen!" (50) Ðức Giêsu đáp: "Vì tôi nói với anh là tôi đã thấy anh ở dưới cây vả, nên anh tin! Anh sẽ còn được thấy những điều lớn lao hơn thế nữa". (51) Người lại nói: "Thật, tôi bảo thật các anh, các anh sẽ thấy trời rộng mở, và các thiên thần của Thiên Chúa lên lên xuống xuống trên Con Người".
(1) Ngày thứ ba, có tiệc cưới tại Cana miền Galilê. Trong tiệc cưới có thân mẫu Ðức Giêsu. (2) Ðức Giêsu và các môn đệ cũng được mời tham dự. (3) Khi thấy thiếu rượu, thân mẫu Ðức Giêsu nói với Người: "Họ hết rượu rồi". (4) Ðức Giêsu đáp: "Thưa bà, chuyện đó can gì đến bà và con? Giờ của con chưa đến". (5) Thân mẫu Người nói với gia nhân: "Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo".
(6) Ở đó có đặt sáu chum bằng đá dùng vào việc thanh tẩy theo thói tục người Dothái, mỗi chum chứa được khoảng tám mươi hoặc một trăm hai mươi lít nước. (7) Ðức Giêsu bảo họ: "Các anh đổ đầy nước vào chum đi!" Và họ đổ đầy tới miệng. (8) Rồi Người nói với họ: "Bây giờ các anh múc và đem cho ông quản tiệc". Họ liền đem cho ông. (9) Khi người quản tiệc nếm thử nước đã hóa thành rượu (mà không biết rượu từ đâu ra, còn gia nhân đã múc nước thì biết), ông mới gọi tân lang lại (10) và nói: "Ai ai cũng thết rượu ngon trước, và khi khách đã ngà ngà mới đãi rượu xoàng hơn. Còn anh, anh lại giữ rượu ngon cho đến mãi bây giờ". (11) Ðức Giêsu đã làm dấu lạ đầu tiên này tại Cana miền Galilê và bày tỏ vinh quang của Người. Các môn đệ đã tin vào Người. (12) Sau đó, Người cùng với thân mẫu, anh em và các môn đệ xuống Caphácnaum và ở lại đó ít ngày.
(13) Gần đến lễ Vượt Qua của người Dothái, Ðức Giêsu lên thành Giêrusalem. (14) Người thấy trong Ðền Thờ có những kẻ bán chiên, bò, bồ câu, và những người đang ngồi đổi tiền. (15) Người liền lấy dây làm roi mà xua đuổi tất cả bọn họ cùng với chiên bò ra khỏi Ðền Thờ; còn tiền của những người đổi bạc, Người đổ tung ra, và lật nhào bàn ghế của họ. (16) Người nói với những kẻ bán bồ câu: "Ðem tất cả những thứ này ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán". (17) Các môn đệ của Người nhớ lại lời đã chép trong Kinh Thánh:
Vì nhiệt tâm lo việc
nhà Chúa,
mà tôi đây sẽ phải thiệt
thân.
(18) Người Dothái hỏi Ðức Giêsu: "Ông lấy dấu lạ nào chứng tỏ chúng tôi thấy là ông có quyền làm như thế?" (19) Ðức Giêsu đáp: "Các ông cứ phá hủy Ðền Thờ này đi; nội ba ngày, tôi sẽ xây dựng lại". (20) Người Dothái nói: "Ðền Thờ này phải mất bốn mươi sáu năm mới xây xong, thế mà nội trong ba ngày ông xây lại được sao?" (21) Nhưng Ðền Thờ Ðức Giêsu muốn nói ở đây là chính thân thể Người. (22) Vậy, khi Người từ cõi chết chỗi dậy, các môn đệ nhớ lại Người đã nói điều đó, Họ tin vào Kinh Thánh và lời Ðức Giêsu đã nói.
(23) Trong lúc Ðức Giêsu ở Giêrusalem vào dịp lễ Vượt Qua, có nhiều kẻ tin vào danh Người bởi đã chứng kiến các dấu lạ Người làm. (24) Nhưng chính Ðức Giêsu không tin họ, vì Người biết họ hết thảy, (25) và không cần ai làm chứng về con người. Quả thật, chính Người biết có gì trong lòng con người.
(1) Trong nhóm Pharisêu, có một người tên là Nicôđêmô, một thủ lãnh của người Dothái. (2) Ông đến gặp Ðức Giêsu ban đêm. Ông nói với Người: "Thưa Thầy, chúng tôi biết: Thầy là một vị tôn sư được Thiên Chúa sai đến. Quả vậy, chẳng ai làm được những dấu lạ Thầy làm, nếu Thiên Chúa không ở cùng người ấy". (3) Ðức Giêsu trả lời:
"Thật, tôi bảo thật
ông:
không ai có thể thấy Nước
Thiên Chúa,
nếu không được sinh ra bởi
ơn trên".
(4) Ông Nicôđêmô thưa: "Một người đã già rồi, làm sao có thể sinh ra được? Chẳng lẽ người đó có thể trở vào lòng mẹ lần thứ hai để sinh ra sao?" (5) Ðức Giêsu đáp:
"Thật, tôi bảo thật
ông:
không ai có thể vào Nước
Thiên Chúa,
nếu không sinh ra bởi nước
và Thần Khí.
(6) Cái gì bởi xác thịt mà
sinh ra, thì là xác thịt;
còn cái gì bởi Thần Khí
mà sinh ra, thì là thần khí.
(7) Ông đừng ngạc nhiên vì
tôi đã nói:
các ông cần phải được
sinh ra bởi ơn trên.
(8) Gió muốn thổi đâu thì thổi;
ông nghe tiếng gió,
nhưng không biết gió từ đâu
đến và thổi đi đâu.
Ai bởi Thần Khí mà sinh ra thì
cũng vậy".
(9) Ông Nicôđêmô hỏi Người: "Làm sao những chuyện ấy có thể xảy ra được?" (10) Ðức Giêsu đáp:
"Ông là bậc thầy
trong dân Ítraen,
mà lại không biết những chuyện
ấy!
(11) Thật, tôi bảo thật ông:
chúng tôi nói những điều
chúng tôi biết,
chúng tôi làm chứng về những
điều chúng tôi đã thấy,
nhưng các ông không nhận lời
chứng của chúng tôi.
(12) Nếu tôi nói với các ông
về những chuyện dưới đất
mà các ông còn không tin,
thì giả như tôi nói với
các ông về những chuyện trên
trời,
làm sao các ông tin được?
(13) Không ai đã lên trời,
ngoại trừ Con Người, Ðấng
từ trời xuống.
(14) Như ông Môsê đã giương
cao con rắn trong sa mạc,
Con Người cũng sẽ phải được
giương cao như vậy,
(15) để ai tin vào Người
thì được sống muôn đời.
(16) Thiên Chúa yêu thế gian
đến nỗi đã ban Con Một,
để ai tin vào Con của Người
thì khỏi phải chết, nhưng được
sống muôn đời.
(17) Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của
Người đến thế gian,
không phải để lên án thế
gian,
nhưng là để thế gian, nhờ
Con của Người,
mà được cứu độ.
(18) Ai tin vào Con của Người,
thì không bị lên án;
nhưng kẻ không tin, thì bị lên
án rồi,
vì đã không tin vào danh của
Con Một Thiên Chúa.
(19) Và đây là bản án:
ánh sáng đã đến thế
gian,
nhưng người ta đã chuộng bóng
tối hơn ánh sáng,
vì các việc họ làm đều
xấu xa.
(20) Quả thật, ai làm điều ác,
thì ghét ánh sáng
và không đến cùng ánh sáng,
để các việc họ làm khỏi
bị chê trách.
(21) Nhưng kẻ sống theo sự thật,
thì đến cùng ánh sáng,
để thiên hạ thấy rõ:
các việc của người ấy
đã được thực hiện
trong Thiên Chúa".
(22) Sau đó, Ðức Giêsu và các môn đệ đi tới miền Giuđê. Người ở lại nơi ấy với các ông và làm phép rửa. (23) Còn ông Gioan, ông cũng đang làm phép rửa tại Ênôn, gần Salêm, vì ở đấy có nhiều nước, và người ta thường đến chịu phép rửa. (24) Lúc ấy, ông Gioan chưa bị tống giam.
(25) Bấy giờ, có một cuộc tranh luận xảy ra giữa các môn đệ của ông Gioan và một người Dothái về việc thanh tẩy. (26) Họ đến gặp ông Gioan và nói: "Thưa Thầy, người trước đây đã ở với Thầy bên kia sông Giođan và được Thầy làm chứng cho, bây giờ ông ấy cũng đang làm phép rửa, và thiên hạ đều đến với ông". (27) Ông Gioan trả lời:
"Chẳng ai có thể nhận được gì mà không do Trời ban".
(28) Chính anh em làm chứng cho Thầy là Thầy đã nói: "Tôi đây không phải là Ðấng Kitô, mà là kẻ được sai đi trước mặt Người".
(29) Ai cưới cô dâu, người ấy là chú rể. Còn người bạn của chú rể đứng đó nghe chàng, thì vui mừng hớn hở vì được nghe tiếng nói của chàng. Ðó là niềm vui của Thầy, niềm vui ấy bây giờ đã trọn vẹn.
(30) Người phải nổi
bật lên, còn Thầy phải lu mờ
đi.
(31) Ðấng từ trên cao mà đến,
thì ở trên mọi người;
kẻ từ đất mà ra,
thì thuộc về đất
và nói những chuyện dưới
đất.
Ðấng từ trời mà đến,
thì ở trên mọi người;
(32) Người làm chứng về
những gì Người đã
thấy đã nghe,
nhưng chẳng ai nhận lời chứng
của Người.
(33) Ai nhận lời chứng của Người,
thì xác nhận Thiên Chúa là
Ðấng chân thật.
(34) Quả vậy, Ðấng được
Thiên Chúa sai đi,
thì nói những lời của
Thiên Chúa,
vì Thiên Chúa ban Thần Khí cho Người
vô ngần vô hạn.
(35) Chúa Cha yêu thương người
Con
và đã giao mọi sự trong tay Người.
(36) Ai tin vào người Con,
thì được sự sống đời
đời;
còn kẻ nào không chịu tin vào
người Con,
thì không được sự sống,
nhưng cơn thịnh nộ của Thiên Chúa
đè nặng trên kẻ ấy.
(1) Nhóm Pharisêu nghe tin Ðức Giêsu thâu nạp và làm phép rửa cho nhiều môn đệ hơn ông Gioan. (2) (Thực ra, không phải chính Ðức Giêsu làm phép rửa, nhưng là các môn đệ của Người). (3) Biết thế, Ðức Giêsu bỏ miền Giuđê mà trở lại miền Galilê. (4) Do đó, Người phải băng qua Samari. (5) Vậy, Người đến một thành xứ Samari, tên là Xykha, gần thửa đất ông Giacóp đã cho con là ông Giuse. (6) Ở đấy, có giếng của ông Giacóp. Người đi đường mỏi mệt, nên ngồi ngay xuống bờ giếng. Lúc đó vào khoảng mười hai giờ trưa.
(7) Có một người phụ nữ Samari đến lấy nước. Ðức Giêsu nói với người ấy: "Chị cho tôi xin chút nước uống!" (8) Quả thế, các môn đệ của Người đã vào thành mua thức ăn. (9) Người phụ nữ Samari liền nói: "Ông là người Dothái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Samari, cho ông nước uống sao?" Quả thế, người Dothái không được giao thiệp với nguòi Samari. (10) Ðức Giêsu trả lời:
"Nếu chị nhận ra ân
huệ Thiên Chúa ban,
và ai là người nói với
chị:
"Cho tôi chút nước uống",
thì hẳn chị đã xin,
và người ấy ban cho chị nước
hằng sống".
(11) Chị ấy nói: "Thưa ông, ông không có gầu, mà giếng lại sâu. Vậy ông lấy đâu ra nước hằng sống? (12) Chẳng lẽ ông lớn hơn tổ phụ Giacóp chúng tôi, là người đã cho chúng tôi giếng này? Chính Người đã uống giếng này, cả con cháu và đàn gia súc của Người cũng vậy". (13) Ðức Giêsu trả lời:
"Ai uống nước
này,
sẽ lại khát.
(14) Còn ai uống nước tôi cho,
sẽ không bao giờ khát nữa.
Và nước tôi cho
sẽ trở thành nơi người
ấy
một mạch nước vọt lên,
đem lại sự sống đời
đời".
(15) Người phụ nữ nói với Ðức Giêsu: "Thưa ông, xin ông cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát và khỏi phải đến đây lấy nước". (16) Người bảo chị ấy: "Chị hãy gọi chồng chị, rồi trở lại đây". (17) Người phụ nữ đáp: "Tôi không có chồng". Ðức Giêsu bảo: "Chị nói: 'Tôi không có chồng' là phải, (18) vì chị đã năm đời chồng rồi, và hiện người đang sống với chị không phải là chồng chị. Chị đã nói đúng". (19) Người phụ nữ nói với Người: "Thưa ông, tôi thấy ông thật là một ngôn sứ... (20) Cha ông chúng tôi đã thờ phượng Thiên Chúa trên núi này; còn các ông lại bảo: Giêrusalem mới chính là nơi thờ phượng Thiên Chúa". (21) Ðức Giêsu phán:
"Này chị, hãy tin
tôi: đã đến giờ
các người sẽ thờ phượng
Chúa Cha,
không phải trên núi này
hay tại Giêrusalem.
(22) Các người thờ Ðấng
các người không biết;
còn chúng tôi thờ Ðấng
chúng tôi biết,
vì ơn cứu độ phát xuất
từ dân Dothái.
(23) Nhưng giờ đã đến
- và chính lúc này đây
giờ những người thờ
phượng đích thực
sẽ thờ phượng Chúa Cha
trong thần khí và sự thật,
vì Chúa Cha tìm kiếm
những ai thờ phượng Người
như thế.
(24) Thiên Chúa là thần khí,
và những kẻ thờ phượng
Người
phải thờ phượng trong thần
khí và sự thật".
(25) Người phụ nữ thưa: "Tôi biết Ðấng Mêsia, gọi là Ðức Kitô, sẽ đến. Khi Người đến, Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự". (26) Ðức Giêsu nói: "Ðấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây".
(27) Vừa lúc đó, các môn đệ trở về. Các ông ngạc nhiên vì thấy Người nói chuyện với một phụ nữ. Tuy thế, không ai dám hỏi: "Thầy cần gì vậy?" Hoặc "Thầy nói gì với chị ấy?" (28) Người phụ nữ để vò nước lại, vào thành và nói với người ta: (29) "Ðến mà xem: có một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Ông ấy không phải là Ðấng Kitô sao?" (30) Họ ra khỏi thành và đến gặp Người.
(31) Trong khi đó, các môn đệ thưa với Người rằng: "Rápbi, xin mời Thầy dùng bữa". (32) Người nói với các ông: "Thầy phải dùng một thứ lương thực mà anh em không biết". (33) Các môn đệ mới hỏi nhau: "Ðã có ai mang thức ăn đến cho Thầy rồi chăng?" (34) Ðức Giêsu nói với các ông:
"Lương thực của
Thầy
là thi hành ý muốn của Ðấng
đã sai Thầy,
và hoàn tất công trình của
Người.
(35) Nào anh em chẳng nói:
Còn bốn tháng nữa mới
đến mùa gặt?
Nhưng này, Thầy bảo anh em:
Ngước mắt lên mà xem,
đồng lúa đã chín vàng
đang chờ ngày gặt hái!
(36) Ai gặt thì lãnh tiền công
và thu hoa lợi để được
sống muôn đời,
và như thế, cả người gieo
lẫn kẻ gặt
đều hớn hở vui mừng.
(37) Thật vậy, câu tục ngữ "kẻ
này gieo, người kia gặt"
quả là đúng!
(38) Thầy sai anh em đi gặt
những gì chính anh em đã không
phải vất vả làm ra.
Người khác đã làm lụng
vất vả;
còn anh em, anh em được vào hưởng
kết quả công lao của họ".
(39) Có nhiều người Samari trong thành đó đã tin vào Ðức Giêsu, vì lời người phụ nữ làm chứng: ông ấy nói với tôi mọi việc tôi đã làm. (40) Vậy, khi đến gặp Người, dân Samari xin Người ở lại với họ, và Người đã ở lại đó hai ngày. (41) Số người tin vì lời Ðức Giêsu nói còn đông hơn nữa. (42) Họ bảo người phụ nữ: "Không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin. Quả thật, chính chúng tôi đã nghe và biết rằng Người thật là Ðấng cứu độ trần gian".
(43) Sau hai ngày, Ðức Giêsu bỏ nơi đó đi Galilê. (44) Chính Người đã quả quyết: ngôn sứ không được tôn trọng tại quê hương mình. (45) Khi người đến Galilê, dân chúng trong miền đón tiếp Người, vì đã chứng kiến tất cả những gì Người làm tại Giêrusalem trong dịp lễ, bởi lẽ chính họ cũng đã đi dự lễ.
(46) Vậy Người trở lại Cana miền Galilê, là nơi Người đã làm cho nước hóa thành rượu. Bấy giờ có một sĩ quan cận vệ của nhà vua có đứa con trai đang bị bệnh tại Caphácnaum. (47) Khi nghe tin Ðức Giêsu từ Giuđê đến Galilê, ông tới gặp và xin Người xuống chữa con ông vì nó sắp chết. (48) Ðức Giêsu nói với ông: "Nếu không thấy dấu lạ điềm thiêng, các ông sẽ chẳng tin đâu!" (49) Viên sĩ quan nói: "Thưa Ngài, xin Ngài xuống cho, kẻo cháu nó chết mất!" (50) Ðức Giêsu bảo: "Ông cứ về đi, con ông sống". Ông tin vào lời Ðức Giêsu nói với mình, và ra về. (51) Ông còn đang đi xuống, thì gia nhân đã đón gặp và nói là con ông sống rồi. (52) Ông hỏi họ con ông đã bắt đầu khá hơn vào giờ nào. Họ đáp: "Hôm qua, vào lúc một giờ trưa thì cậu hết sốt". (53) Người cha nhận ra là vào đúng giờ đó, Ðức Giêsu đã nói với mình: "Con ông sống", nên ông và cả nhà đều tin. (54) Ðó là dấu lạ thứ hai Ðức Giêsu đã làm, khi Người từ miền Giuđê đến miền Galilê.
(1) Sau đó, nhân dịp lễ của người Dothái, Ðức Giêsu lên Giêrusalem. (2) Tại Giêrusalem, gần Cửa Chiên, có một hồ nước, tiếng Hipri gọi là Bếtdatha. Hồ này có năm hành lang. (3) Nhiều người đau ốm, đui mù, què quặt, bất toại nằm la liệt ở đó, (chờ cho nước động, (4) vì thỉnh thoảng có thiên thần Chúa xuống hồ khuấy nước lên; khi nước khuấy lên, ai xuống trước, thì dù mắc bệnh gì đi nữa, cũng được khỏi). (5) Ở đó, có một người đau ốm đã ba mươi tám năm. (6) Ðức Giêsu thấy anh ta nằm đấy và biết anh sống trong tình trạng đó đã lâu, thì nói: "Anh có muốn khỏi bệnh không?" (7) Bệnh nhân đáp: "Thưa Ngài, tôi không có người đem tôi xuống hồ, khi nước khuấy lên. Lúc tôi tới đó, thì đã có người khác xuống trước mất rồi!" (8) Ðức Giêsu bảo: "Anh hãy chỗi dậy, vác chõng và đi!" (9) Người ấy liền được khỏi bệnh, vác chõng và bước đi.
Hôm đó lại là ngày sabát. (10) Người Dothái mới nói với kẻ được khỏi bệnh: "Hôm nay là ngày sabát, anh không được phép vác chõng!" (11) Nhưng anh đáp: "Chính người chữa tôi khỏi bệnh đã nói với tôi: 'Anh hãy vác chõng và đi!'" (12) Họ hỏi anh: "Ai là người đã bảo anh: 'Vác chõng và đi'?" (13) Nhưng người đã được khỏi bệnh không biết là ai. Quả thế, Ðức Giêsu đã lánh đi, vì có đám đông ở đấy. (14) Sau đó, Ðức Giêsu gặp người ấy trong Ðền Thờ và nói: "Này, anh đã được khỏi bệnh. Ðừng phạm tội nữa, kẻo lại phải khốn hơn trước!" (15) Anh ta đi nói với người Dothái: Ðức Giêsu là người đã chữa anh khỏi bệnh. (16) Do đó, người Dothái chống đối Ðức Giêsu, vì Người hay chữa bệnh ngày sabát. (17) Nhưng Ðức Giêsu đáp lại: "Cho đến nay, Cha tôi vẫn làm việc, thì tôi cũng làm việc". (18) Bởi vậy, người Dothái lại càng tìm cách giết Ðức Giêsu, vì không những Người phá luật sabát, lại còn nói Thiên Chúa là Cha của mình, và như thế là tự coi mình ngang hàng với Thiên Chúa.
(19) Ðức Giêsu lên
tiếng nói với họ rằng:
"Thật, tôi bảo thật các ông:
người Con không thể tự mình
làm bất cứ điều gì,
ngoại trừ điều Người
thấy Chúa Cha làm;
vì điều gì Chúa Cha làm,
thì người Con cũng làm như
vậy.
(20) Quả thật, Chúa Cha yêu người
Con
và cho người Con thấy mọi điều
mình làm,
lại sẽ còn cho người Con thấy
những việc lớn lao hơn nữa,
khiến chính các ông cũng phải
kinh ngạc.
(21) Chúa Cha làm cho kẻ chết chỗi
dậy
và ban sự sống cho họ thế nào,
thì người Con cũng ban sự
sống cho ai tùy ý.
(22) Quả thật, Chúa Cha không xét xử
một ai,
nhưng đã ban cho người Con
mọi quyền xét xử,
(23) để ai nấy đều tôn kính
người Con
như tôn kính Chúa Cha.
Kẻ nào không tôn kính người
Con,
thì cũng không tôn kính Chúa
Cha,
Ðấng đã sai người Con.
(24) Thật, tôi bảo thật các ông:
ai nghe lời tôi
và tin vào Ðấng đã sai tôi,
thì có sự sống đời
đời
và khỏi bị xét xử,
nhưng đã từ cõi chết bước
vào cõi sống.
(25) Thật, tôi bảo thật các ông:
giờ đã đến - và chính
là lúc này đây
giờ các kẻ chết nghe tiếng
Con Thiên Chúa;
ai nghe thì sẽ được sống.
(26) Quả thật, Chúa Cha có sự sống
nơi mình thế nào,
thì cũng ban cho người Con
được có sự sống nơi
mình như vậy,
(27) lại ban cho người Con được
quyền xét xử,
vì người Con là Con Người.
(28) Các ông chớ ngạc nhiên về
điều này,
vì giờ đã đến,
giờ mọi kẻ ở trong mồ
sẽ nghe tiếng người Con
(29) và sẽ ra khỏi đó:
ai đã làm điều lành,
thì sẽ sống lại để được
sống;
ai đã làm điều dữ,
thì sẽ sống lại để bị
kết án.
(30) Tôi không thể tự ý mình
làm gì.
Tôi xét xử theo như tôi được
nghe,
và phán quyết của tôi thật
công minh,
vì tôi không tìm cách làm theo
ý riêng tôi,
nhưng theo ý Ðấng đã sai tôi.
(31) Nếu tôi làm chứng về chính
mình,
thì lời chứng của tôi không
thật.
(32) Có Ðấng khác làm chứng
về tôi
và tôi biết:
lời Người làm chứng
về tôi
là lời chứng thật.
(33) Chính các ông đã cử
người đến gặp ông Gioan,
và ông ấy đã làm chứng
cho sự thật.
(34) Phần tôi, tôi không cần
lời chứng của một phàm
nhân,
nhưng tôi nói ra những điêu
này
để các ông được cứu
độ.
(35) Ông Gioan là ngọn đèn cháy
sáng,
và các ông đã muốn vui hưởng
ánh sáng của ông trong một thời
gian.
(36) Nhưng phần tôi, tôi có một
lời chứng
lớn hơn lời chứng của
ông Gioan:
đó là những việc Chúa
Cha đã giao cho tôi
để tôi hoàn thành;
chính những việc tôi làm đó
làm chứng cho tôi rằng
Chúa Cha đã sai tôi.
(37) Chúa Cha, Ðấng đã sai tôi,
chính Người cũng đã làm
chứng cho tôi.
Các ông đã không bao giờ
nghe tiếng Người,
cũng chẳng bao giờ thấy tôn
nhan Người.
(38) Các ông không giữ lời
Người ở lại trong lòng,
bởi vì chính các ông không
tin
vào Ðấng Người đã
sai đến.
(39) Các ông nghiên cứu Kinh Thánh,
vì nghĩ rằng trong đó các
ông sẽ tìm được
sự sống đời đời.
Mà chính Kinh Thánh lại làm chứng
về tôi.
(40) Các ông không muốn đến
cùng tôi
để được sự sống.
(41) Tôi không cần người đời
tôn vinh.
(42) Nhưng tôi biết:
các ông không có lòng yêu
mến Thiên Chúa.
(43) Tôi đã đến nhân danh Cha
tôi,
nhưng các ông không đón nhận.
Nếu có ai khác nhân danh mình mà
đến,
thì các ông lại đón nhận.
(44) Các ông tôn vinh lẫn nhau
và không tìm kiếm vinh quang
phát xuất từ Thiên Chúa duy
nhất,
thì làm sao các ông có thể
tin được?
(45) Các ông đừng tưởng
là tôi sẽ tố cáo các ông
với Chúa Cha.
Kẻ tố cáo các ông chính là
Môsê,
người mà các ông tin cậy.
(46) Vì nếu các ông tin ông Môsê,
thì hẳn các ông cũng tin tôi,
bởi lẽ ông ấy đã viết
về tôi.
(47) Nhưng nếu các ông không tin
các điều ông ấy viết,
thì làm sao tin được lời
tôi nói?"
(1) Sau đó, Ðức Giêsu sang bên kia Biển Hồ Galilê, cũng gọi là Biển Hồ Tibêria. (2) Có đông đảo dân chúng đi theo Người, bởi họ từng được chứng kiến những dấu lạ Người làm cho những kẻ đau ốm. (3) Ðức Giêsu lên núi và ngồi đó với các môn đệ. (4) Lúc ấy, sắp đến lễ Vượt Qua là đại lễ của người Dothái.
(5) Ngước mắt lên, Ðức Giêsu nhìn thấy đông đảo dân chúng đến với mình. Người hỏi ông Philípphê: "Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây?" (6) Người nói thế là để thử ông, chứ Người đã biết mình sắp làm gì rồi. (7) Ông Philípphê đáp: "Thưa có mua đến hai trăm đồng bạc bánh cũng chẳng đủ cho mỗi người một chút". (8) Một trong các môn đệ, là ông Anrê, anh ông Simon Phêrô, thưa với Người: (9) "Ở đây có một em bé có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá, nhưng với bằng ấy người thì thấm vào đâu!" (10) Ðức Giêsu nói: "Anh em cứ bảo người ta ngồi xuống đi". Chỗ ấy có nhiều cỏ. Người ta ngồi xuống, nguyên số đàn ông đã tới khoảng năm ngàn. (11) Vậy, Ðức Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, rồi phân phát cho những người ngồi đó. Cá nhỏ, Người cũng phân phát như vậy, ai muốn ăn bao nhiêu tùy ý. (12) Khi họ đã no nê rồi, Người bảo các môn đệ: "Anh em thu lại những miếng thừa kẻo phí đi". (13) Họ liền đi thu những miếng thừa của năm chiếc bánh lúa mạch người ta ăn còn lại, và chất đầy được mười hai thúng. (14) Dân chúng thấy dấu lạ Ðức Giêsu làm thì nói: "Hẳn ông này là vị ngôn sứ, Ðấng phải đến thế gian!" (15) Nhưng Ðức Giêsu biết họ sắp đến bắt mình đem đi mà tôn làm vua, nên Người lại lánh mặt, đi lên núi một mình.
(16) Chiều đến, các môn đệ xuống bờ Biển Hồ, (17) rồi xuống thuyền đi về phía Caphácnaum bên kia Biển Hồ. Trời đã tối mà Ðức Giêsu chưa đến với các ông. (18) Biển động, vì gió thổi mạnh. (19) Khi đã chèo được chừng hai mươi lăm hoặc ba mươi chặng đường, các ông thấy Ðức Giêsu đi trên mặt Biển Hồ và đang tới gần thuyền. Các ông hoảng sợ. (20) Nhưng Người bảo các ông: "Chính Thầy đây, đừng sợ!" (21) Các ông muốn rước Người lên thuyền, nhưng ngay lúc đó thuyền đã tới bờ, nơi các ông định đến.
(22) Hôm sau, đám đông dân chúng còn đứng ở bờ bên kia Biển Hồ, thấy rằng ở đó đã chỉ có một chiếc thuyền và Ðức Giêsu lại không cùng xuống thuyền đó với các môn đệ, nhưng chỉ có các ông ra đi mà thôi. (23) Tuy nhiên, có những thuyền khác từ Tibêria đến gần nơi dân chúng đã được ăn bánh sau khi Chúa dâng lời tạ ơn. (24) Vậy khi dân chúng thấy Ðức Giêsu cũng như các môn đệ đều không có ở đó, thì họ xuống thuyền đi Caphácnaum tìm kiếm Người. (25) Khi đã gặp thấy Người ở bên kia Biển Hồ, họ nói: "Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ vậy?" (26) Ðức Giêsu đáp:
"Thật, tôi bảo thật
các ông,
các ông đi tìm tôi
không phải vì các ông đã
thấy dấu lạ,
nhưng vì các ông đã được
ăn bánh no nê.
(27) Các ông hãy ra công làm việc
không phải vì lương thực mau
hư nát,
nhưng để có lương thực
thường tồn
đem lại phúc trường sinh,,BR>
là thứ lương thực
Con Người sẽ ban cho các ông,
bởi vì chính Con Người là
Ðấng
Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác
nhận".
(28) Họ liền hỏi Người: "Chúng tôi phải làm gì để thực hiện những việc Thiên Chúa muốn?" (29) Ðức Giêsu trả lời: "Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm, là tin vào Ðấng Người đã sai đến". (30) Họ lại hỏi: "Vậy chính ông, ông làm được dấu lạ nào cho chúng tôi thấy để tin ông? Ông sẽ làm gì đây? (31) Tổ tiên chúng tôi đã ăn manna trong sa mạc, như có lời chép:
Người đã cho họ ăn bánh từ trời".
(32) Ðức Giêsu đáp:
"Thật, tôi bảo thật
các ông,
không phải ông Môsê đã
cho các ông
ăn bánh bởi trời đâu,
mà chính là Cha tôi
cho các ông ăn bánh bởi trời,
bánh đích thực,
(33) vì bánh Thiên Chúa ban
là bánh từ trời xuống,
bánh đem lại sự sống cho thế
gian".
(34) Họ liền nói: "Thưa Ngài, xin cho chúng tôi được ăn mãi thứ bánh ấy". (35) Ðức Giêsu bảo họ:
"Chính tôi là bánh
trường sinh.
Ai đến với tôi, không hề
phải đói;
ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!
(36) Nhưng tôi đã bảo các ông:
các ông đã thấy tôi mà
không tin.
(37) Tất cả những người
Chúa Cha ban cho tôi
đều sẽ đến với tôi,
và ai đến với tôi,
tôi sẽ không loại ra ngoài,
(38) vì tôi tự trời mà xuống,
không phải để làm theo ý tôi,
nhưng để làm theo ý Ðấng
đã sai tôi.
(39) Mà ý của Ðấng đã
sai tôi
là tất cả những kẻ Người
đã ban cho tôi,
tôi sẽ không để mất một
ai,
nhưng sẽ cho họ sống lại
trong ngày sau hết.
(40) Thật vậy, ý của Cha tôi
là tất cả những ai thấy người
Con
và tin vào người Con,
thì được sống muôn đời,
và tôi sẽ cho họ sống lại
trong ngày sau hết".
(41) Người Dothái liền xầm xì phản đối, bởi vì Ðức Giêsu đã nói: "Tôi là bánh từ trời xuống". (42) Họ nói: "Ông này chẳng phải là ông Giêsu, con ông Giuse đó sao? Cha mẹ ông ta, chúng ta đều biết cả, sao bây giờ ông ta lại nói: "Tôi từ trời xuống?" Ðức Giêsu bảo họ:
"Các ông đừng
có xầm xì với nhau!
(44) Chẳng ai đến với tôi được,
nếu Chúa Cha, là Ðấng đã
sai tôi,
không lôi kéo người ấy,
và tôi, tôi sẽ cho người
ấy sống lại
trong ngày sau hết.
(45) Xưa có lời chép trong sách
các ngôn sứ:
Hết mọi người sẽ được
Thiên Chúa dạy dỗ.
Vậy phàm ai nghe và đón nhận
giáo huấn của Chúa Cha,
thì sẽ đến với tôi.
(46) Không phải là đã có ai
thấy Chúa Cha đâu,
nhưng chỉ có Ðấng từ nơi
Thiên Chúa mà đến,
chính Ðấng ấy đã thấy
Chúa Cha.
(47) Thật, tôi bảo thật các ông,
ai tin thì được sự sống
đời đời.
(48) Tôi là bánh trường sinh.
(49) Tổ tiên các ông đã ăn
manna trong sa mạc,
nhưng đã chết.
(50) Còn bánh này là bánh từ
trời xuống,
để ai ăn thì khỏi phải chết.
(51) Tôi là bánh hằng sống từ
trời xuống.
Ai ăn bánh này, sẽ được
sống muôn đời.
Và bánh tôi sẽ ban tặng,
chính là thịt tôi đây,
để cho thế gian được sống".
(52) Người Dothái liền tranh luận sôi nổi với nhau. Họ nói: "Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?" (53) Ðức Giêsu nói với họ:
"Thật, tôi bảo thật
các ông:
nếu các ông không ăn thịt và
uống máu Con Người,
các ông không có sự sống
nơi mình.
(54) Ai ăn thịt và uống máu tôi,
thì được sống muôn đời,
và tôi sẽ cho người ấy
sống lại
vào ngày sau hết,
(55) vì thịt tôi thật là của
ăn,
và máu tôi thật là của uống.
(56) Ai ăn thịt và uống máu tôi,
thì ở lại trong tôi,
và tôi ở lại trong người
ấy.
(57) Như Chúa Cha là Ðấng hằng
sống đã sai tôi,
và tôi sống nhờ Chúa Cha thế
nào,
thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ
tôi
mà được sống như vậy.
(58) Ðây là bánh từ trời
xuống,
không phải như bánh tổ tiên các
ông đã ăn,
và họ đã chết.
Ai ăn bánh này, sẽ được
sống muôn đời".
(59) Ðó là những điều Ðức Giêsu đã nói khi giảng dạy trong hội đường, ở Caphácnaum.
(60) Nghe rồi, nhiều môn đệ của Người liền nói: "Lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi?" (61) Nhưng Ðức Giêsu tự mình biết được là các môn đệ đang xầm xì về vấn đề ấy, Người bảo các ông: "Ðiều đó, anh em lấy làm chướng , không chấp nhận được ư? (62) Thế thì anh em thấy Con Người lên nơi đã ở trước kia thì sao?
(63) Thần khí mới
làm cho sống,
chứ xác thịt chẳng có ích
gì.
Lời Thầy nói với anh em
là thần khí và là sự
sống.
(64) Nhưng trong anh em có những kẻ không tin". Quả thật, ngay từ đầu, Ðức Giêsu đã biết những kẻ nào không tin, và kẻ nào sẽ nộp Người. (65) Người nói tiếp: "Vì thế, Thầy bảo anh em: không ai đến với Thầy được, nếu Chúa Cha không ban ơn ấy cho". (66) Từ lúc đó, nhiều môn đệ rút lui, không còn đi với Người nữa.
(67) Vậy Ðức Giêsu hỏi Nhóm Mười Hai: "Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao?" (68) Ông Simon Phêrô liền đáp: "Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời. (69) Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết rằng chính Thầy là Ðấng Thánh của Thiên Chúa". (70) Ðức Giêsu đáp: "Chẳng phải Thầy đã chọn anh em là Nhóm Mười Hai sao? Thế mà một người trong anh em lại là quỷ!" (71) Người muốn nói về Giuđa, con ông Simon Ítcariốt; thật thế, chính y, một môn đệ trong Nhóm Mười Hai, sẽ nộp Người.
(1) Sau đó, Ðức Giêsu thường đi lại trong miền Galilê; thật vậy, Người không muốn đi lại trong miền Giuđê, vì người Dothái tìm giết Người.
(2) Lễ Lều của người Dothái gần tới, (3) anh em Ðức Giêsu nói với Người: "Ông bỏ đây mà sang miền Giuđê đi, để cả môn đệ của ông cũng được nhìn thấy những việc ông làm, (4) vì không ai muốn được người ta biết đến mà lại hoạt động âm thầm. Nếu ông làm những việc ấy, thì hãy tỏ mình ra cho thiên hạ biết". (5) Thật thế, anh em Người không tin vào Người. (6) Ðức Giêsu nói với họ: "Thời của tôi chưa đến, nhưng thời của các anh lúc nào cũng thuận tiện. (7) Thế gian không thể ghét các anh, nhưng tôi thì nó ghét, vì tôi làm chứng rằng các việc nó làm thì xấu xa. (8) Các anh cứ lên dự lễ đi; còn tôi, tôi không lên dự lễ này, vì thời của tôi chưa chín muồi". (9) Nói thế rồi, Người ở lại Galilê. (10) Tuy nhiên, khi anh em Người đã lên dự lễ, thì chính Người cũng lên, nhưng không công khai và hầu như bí mật. (11) Người Dothái tìm kiếm Người trong dịp lễ và nói: "Ông ấy đâu rồi?" (12) Dân chúng bàn tán nhiều về Người. Kẻ thì bảo: "Ðó là một người tốt". Kẻ thì nói: "Không, ông ta mê hoặc dân chúng". (13) Nhưng không ai dám công khai nói về Người, vì sợ người Dothái.
(14) Vào giữa kỳ lễ, Ðức Giêsu lên Ðền Thờ và giảng dạy. (15) Người Dothái lấy làm ngạc nhiên. Họ nói: "Ông này không học hành gì, mà sao lại thông thạo chữ nghĩa thế!" (16) Ðức Giêsu trả lời:
"Ðạo lý tôi
dạy không phải là của tôi,
nhưng là của Ðấng đã
sai tôi.
(17) Ai muốn làm theo ý của Người,
thì sẽ biết rằng
đạo lý ấy là bởi Thiên
Chúa
hay do tôi tự mình giảng dạy.
(18) Ai tự mình giảng dạy,
thì tìm vinh quang cho Ðấng đã
sai mình,
thì là người chân thật,
và nơi người ấy không có
gì là bất chính.
(19) Ông Môsê đã chẳng ban
Lề Luật
cho các ông sao?
Thế mà không một ai trong các ông
tuân giữ Lề Luật!
Sao các ông lại tìm cách giết tôi?" (20) Dân chúng đáp: "Ông bị quỷ ám rồi! Có ai tìm giết ông đâu?" (21) Ðức Giêsu trả lời: "Tôi chỉ làm có một việc, mà tất cả các ông đều ngạc nhiên. (22) Ông Môsê đã truyền cho các ông làm phép cắt bì (thực ra, phép ấy đã có từ thời các tổ phụ, chứ không phải từ thời ông Môsê), và các ông làm phép cắt bì cả trong ngày sabát. (23) Vậy, nếu có người có chịu phép cắt bì trong ngày sabát để khỏi lỗi luật Môsê, thì sao các ông lại nổi giận với tôi, vì tôi đã chữa lành toàn thân một người trong ngày sabát? (24) Các ông đừng xét đoán theo bề ngoài nữa, nhưng hãy xét đoán cho công minh".
(25) Bấy giờ có những người ở Giêrusalem nói: "Ông này không phải là người họ đang tìm giết đó sao? (26) Kìa, ông ta ăn nói công khai mà họ chẳng bảo gì cả. Phải chăng các nhà hữu trách đã thực sự nhìn nhận ông là Ðấng Kitô? (27) Ông ấy, chúng ta biết ông xuất thân từ đâu rồi; còn Ðấng Kitô, khi Người đến thì chẳng ai biết Người xuất thân từ đâu cả". (28) Lúc giảng dạy trong Ðền Thờ, Ðức Giêsu nói lớn tiếng rằng:
"Các ông biết tôi
ư?
Các ông biết tôi xuất thân
từ đâu ư?
Tôi đâu có tự mình mà
đến.
Ðấng đã sai tôi là Ðấng
chân thật.
Các ông, các ông không biết
Người.
(29) Phần tôi, tôi biết Người,
bởi vì tôi từ nơi Người
mà đến
và chính Người đã sai
tôi".
(30) Bấy giờ họ tìm cách bắt Người, nhưng chẳng có ai tra tay bắt, vì giờ của Người chưa đến.
(31) Trong dân chúng, có nhiều kẻ đã tin vào Người, họ nói: "Khi Ðấng Kitô đến, liệu Người có làm nhiều dấu lạ hơn ông này chăng?" (32) Người Pharisêu nghe dân chúng bàn tán với nhau về Người như thế, nên họ và các thượng tế sai vệ binh đi bắt Người. (33) Vậy, Ðức Giêsu bảo họ:
"Tôi còn ở với
các ông ít lâu nữa thôi,
rồi tôi đi đến cùng Ðấng
đã sai tôi.
(34) Các ông sẽ tìm tôi mà
không gặp,
và nơi tôi ở, các ông
không thể đến được".
(35) Người Dothái liền nói với nhau: "Ông ấy sắp đi đâu mà chúng ta không gặp được? Phải chăng ông sắp đi gặp kiều bào sống giữa người Hy Lạp, để giảng dạy cho người Hy Lạp? (36) Ông ấy muốn nói gì khi bảo:
'Các ông sẽ tìm
tôi mà không gặp,
và nơi tôi ở, các ông
không thể đến được'?"
(37-38) Hôm ấy là ngày bế mạc tuần lễ Lều, và là ngày long trọng nhất. Ðức Giêsu đứng trong Ðền Thờ và lớn tiếng nói rằng:
"Ai khát, hãy đến
với tôi,
ai tin vào tôi, hãy đến mà
uống!"
Như Kinh Thánh đã nói:
Từ lòng Người,
sẽ tuôn chảy
những dòng nước hằng sống.
(39) Ðức Giêsu muốn nói về Thần Khí mà những kẻ tin vào Người sẽ lãnh nhận. Thật thế, bấy giờ họ chưa nhận được Thần Khí, vì Ðức Giêsu chưa được tôn vinh.
(40) Trong dân chúng, có những người nghe các lời ấy thì nói: "Ông này thật là vị ngôn sứ". (41) Kẻ khác rằng: "Ông này là Ðấng Kitô". Nhưng có kẻ lại nói: "Ðấng Kitô mà lại xuất thân từ Galilê sao? (42) Nào Kinh Thánh đã chẳng nói: Ðấng Kitô xuất thân từ dòng dõi vua Ðavít và từ Bêlem, làng của vua Ðavít sao?" (43) Vậy, vì Người mà dân chúng đâm ra chia rẽ. (44) Một số trong bọn họ muốn bắt Người, nhưng chẳng có ai tra tay bắt.
(45) Các vệ binh, trở về với các thượng tế và người Pharisêu. Họ liền hỏi chúng: "Tại sao các anh không điệu ông ấy về đây?" (46) Các vệ binh trả lời: "Xưa nay chưa hề đã có ai nói năng như người ấy!" (47) Người Pharisêu liền nói với chúng: "Cả các anh nữa, các anh cũng bị mê hoặc rồi sao? (48) trong hàng thủ lãnh hay trong giới Pharisêu, đã có mặt ai tin vào tên ấy đâu? (49) Còn bọn dân đen này, thứ người không biết Lề Luật, đúng là quân bị nguyền rủa!" (50) Trong nhóm Pharisêu, có một người tên là Nicôđêmô, trước đây đã đến gặp Ðức Giêsu; ông nói với họ: (51) "Lề Luật của chúng ta có cho phép kết án ai, trước khi nghe người ấy và biết người ấy làm gì không?" (52) Họ đáp: "Cả ông nữa, ông cũng là người Galilê sao? Ông cứ nghiên cứu, rồi sẽ thấy: không một ngôn sứ nào xuất thân từ Galilê cả".
(53) Sau đó, ai nấy trở về nhà mình.
(1) Còn Ðức Giêsu thì đến núi Ôliu.
(2) Vừa tảng sáng, Người trở lại Ðền Thờ. Toàn dân đến với Người. Người ngồi xuống giảng dạy họ. (3) Lúc đó, các kinh sư và người Pharisêu dẫn đến trước mặt Ðức Giêsu một phụ nữ bị bắt gặp đang ngoại tình. Họ để chị ta đứng ở giữa, (4) rồi nói với Người: "Thưa Thầy, người đàn bà này bị bắt quả tang đang ngoại tình. (5) Trong sách Luật, ông Môsê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?" (6) Họ nói thế nhằm thử Người, để có bằng cớ tố cáo Người. Nhưng Ðức Giêsu cúi xuống lấy ngón tay viết trên đất. (7) Vì họ cứ hỏi mãi, nên Người ngẩng lên và bảo họ: "Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi". (8) Rồi Người lại cúi xuống viết trên đất. (9) Nghe vậy, họ bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi. Chỉ còn lại một mình Ðức Giêsu, và người phụ nữ thì đứng ở giữa. (10) Người ngẩng lên và nói: "Này chị, họ đâu cả rồi? Không ai lên án chị sao?" (11) Người đàn bà đáp: "Thưa ông, không có ai cả". Ðức Giêsu nói: "Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!"
(12) Ðức Giêsu lại
nói với người Dothái:
"Tôi là ánh sáng thế gian.
Ai theo tôi, sẽ không phải đi trong
bóng tối,
nhưng sẽ nhận được
ánh sáng đem lại sự sống".
(13) Người Pharisêu nói với Ðức Giêsu: "Ông làm chứng cho chính mình; lời chứng của ông không thật!" (14) Người trả lời:
"Tôi có làm chứng
cho chính mình đi nữa,
thì lời chứng của tôi vẫn
là chứng thật,
bởi vì tôi biết tôi từ
đâu tới và đi đâu.
Còn các ông, các ông không
biết
tôi từ đâu tới và
đi đâu.
(15) Các ông xét đoán theo kiểu
người phàm;
phần tôi, tôi không xét đoán
ai cả.
(16) Mà nếu tôi có xét đoán,
thì sự xét đoán của tôi
vẫn đúng sự thật,
vì không phải chỉ có mình tôi,
nhưng có tôi và Ðấng đã
sai tôi.
(17) Trong Lề Luật của các ông, có
chép rằng
lời chứng của hai người
là chứng thật.
(18) Tôi làm chứng cho chính mình,
và Chúa Cha là Ðấng đã
sai tôi
cũng làm chứng cho tôi".
(19) Họ liền hỏi người: "Cha
ông ở đâu?" Ðức
Giêsu đáp:
"Các ông không biết tôi,
cũng chẳng biết Cha tôi.
Nếu các ông biết tôi,
thì hẳn cũng biết Cha tôi".
(20) Người đã nói những lời ấy, khi giảng dạy trong Ðền Thờ, tại nơi đặt thùng tiền dâng cúng. Không có ai bắt Người, vì giờ của Người chưa đến.
(21) Ðức Giêsu lại
nói với họ:
"Tôi ra đi, các ông sẽ tìm
tôi,
và các ông sẽ mang tội mình
mà chết.
Nơi tôi đi, các ông không thể
đến được".
(22) Người Dothái mới nói: "Ông ấy sẽ tự tử hay sao mà lại nói" 'Nơi tôi đi, các ông không thể đến được'?" (23) Người bảo họ:
"Các ông bởi
hạ giới;
còn tôi, tôi bởi thượng
giới.
Các ông thuộc về thế gian này;
còn tôi, tôi không thuộc về
thế gian này.
(24) Tôi đã nói với các
ông là
các ông sẽ mang tội lỗi mình
mà chết.
Thật vậy, nếu các ông không tin
là Tôi Hằng Hữu,
các ông sẽ mang tội lỗi minh mà
chết".
(25) Họ liền hỏi Người: "Ông là ai?" Ðức Giêsu đáp:
"Hoàn toàn đúng
như tôi vừa nói với các
ông đó.
(26) Tôi còn có nhiều điều
phải nói
và xét đoán về các ông.
Nhưng Ðấng đã sai tôi là
Ðấng chân thật;
còn tôi, tôi nói lại cho thế
gian
những điều tôi đã nghe
Người nói".
(27) Họ không hiểu là Ðức Giêsu nói với họ về Chúa Cha. (28) Người bảo họ:
"Khi các ông giương
cao Con Người lên,
bấy giờ các ông sẽ biết
là Tôi Hằng Hữu,
và biết tôi không tự mình
làm bất cứ điều gì,
nhưng Chúa Cha đã dạy tôi thế
nào,
thì tôi nói như vậy.
(29) Ðấng đã sai tôi vẫn ở
với tôi;
Người không để tôi cô
độc,
vì tôi hằng làm những điều
đẹp ý Người".
(30) Khi Ðức Giêsu nói thế, thì có nhiều kẻ tin vào Người.
(31) Vậy, Ðức Giêsu
nói với
những người Dothái đã
tin Người:
"Nếu các ông ở
lại trong lời của tôi,
thì các ông thật là môn đệ
tôi;
(32) các ông sẽ biết sự thật,
và sự thật sẽ giải phóng
các ông".
(33) Họ đáp: "Chúng tôi là dòng dõi ông Ápraham. Chúng tôi không hề làm nô lệ cho ai bao giờ. Làm sao ông lại nói: các ông sẽ được tự do?" (34) Ðức Giêsu trả lời:
"Thật, tôi bảo thật
các ông:
hễ ai phạm tội thì làm nô lệ
cho tội.
(35) Vậy, nếu người Con có giải
phóng các ông,
thì các ông mới thực sự
là những người tự do.
(37) Tôi biết các ông là dòng
dõi ông Ápraham,
nhưng các ông tìm cách giết
tôi,
vì lời tôi không thấm vào
lòng các ông.
(38) Phần tôi, tôi nói những
điều đã thấy nơi Cha tôi;
còn các ông, các ông làm
những gì đã nghe cha các ông
nói".
(39) Họ đáp: "Cha chúng tôi là ông Ápraham". Ðức Giêsu nói:
"Giả như các ông
là con cái ông Ápraham,
hẳn các ông phải làm
những việc ông Ápraham đã
làm.
(40) Thế mà bây giờ các ông
lại tìm giết tôi,
là người đã nói cho các
ông
sự thật mà tôi đã nghe biết
từ Thiên Chúa.
Ðiều đó, ông Ápraham đã
không làm.
(41) Còn các ông, các ông làm
những việc cha các ông làm".
Họ mới nói: "Chúng tôi đâu phải là con hoang. chúng tôi chỉ có một Cha: đó là Thiên Chúa!" (42) Ðức Giêsu bảo họ:
"Giả như Thiên Chúa
là Cha các ông,
hẳn các ông phải yêu mến tôi,
vì tôi phát xuất từ Thiên
Chúa
và bởi Thiên Chúa mà đến.
Thật thế, tôi không tự mình
mà đến,
nhưng chính Người đã sai
tôi.
(43) Tại sao các ông không hiểu lối
nói của tôi?
Là vì các ông không thể nghe
lời tôi nói.
(44) Cha các ông là ma quỷ,
và các ông muốn làm những
gì cha các ông ham thích.
Ngay từ đầu, nó đã không
đứng về phía sự thật,
vì sự thật không ở trong nó.
Khi nó nói dối là nó theo bản
tính của nó,
bởi vì nó là kẻ nói
dối
và là cha sự gian dối.
(45) Còn tôi, chính vì tôi nói
sự thật,
nên các ông không tin tôi.
(46) Ai trong các ông chứng minh được
là tôi có tội?
Nếu tôi nói sự thật,
sao các ông lại không tin tôi?
(47) Ai thuộc về Thiên Chúa,
thì nghe lời Thiên Chúa nói;
còn các ông, các ông không
chịu nghe,
vì các ông không thuộc về Thiên
Chúa".
(48) Người Dothái đáp: "Chúng tôi bảo ông là người Samari và người bị quỷ ám thì chẳng đúng lắm sao? (49) Ðức Giêsu trả lời:
"Tôi không bị quỷ
ám.
Nhưng tôi tôn kính Cha tôi;
còn các ông, các ông lại làm
nhục tôi.
(50) Phần tôi, tôi không tìm vinh quang
cho mình.
Có Ðấng tìm cho tôi và xét
xử cho tôi.
(51) Thật, tôi bảo thật các ông:
ai tuân giữ lời tôi,
thì sẽ không bao giờ phải chết".
(52) Người Dothái liền nói: "Bây giờ, chúng tôi biết chắc là ông bị quỷ ám. Ông Ápraham đã chết, các ngôn sứ cũng vậy; thế mà ông lại nói:
"Ai tuân giữ lời
tôi,
thì sẽ không bao giờ phải chết".
(53) Chẳng lẽ ông lại cao trọng hơn cha chúng tôi là ông Ápraham sao? Người đã chết, các ngôn sứ cũng đã chết. Ông tự coi mình là ai?" (54) Ðức Giêsu đáp:
"Nếu tôi tôn vinh
chính mình,
vinh quang của tôi chẳng là gì cả.
Ðấng tôn vinh tôi chính là
Cha tôi,
Ðấng mà các ông gọi là
Thiên Chúa của các ông.
(55) Các ông không biết Người;
còn tôi, tôi biết Người.
Nếu tôi nói là tôi không biết
Người,
thì tôi cũng là kẻ nói dối
như các ông.
Nhưng tôi biết Người và
giữ lời Người.
(56) Ông Ápraham là cha các ông
đã hớn hở vui mừng
vì hy vọng được thấy ngày
của tôi.
Ông đã thấy và đã
mừng rỡ".
(57) "Ông chưa được năm mươi tuổi mà đã thấy ông Ápraham!" (58) Ðức Giêsu đáp:
"Thật, tôi bảo thật
các ông:
trước khi có ông Ápraham,
thì tôi, Tôi Hằng Hữu!"
(59) Họ liền lượm đá để ném Người. Nhưng Ðức Giêsu lánh đi và ra khỏi Ðền Thờ.
(1) Ði ngang qua, Ðức Giêsu nhìn thấy một người mù từ thuở mới sinh. (2) Các môn đệ hỏi Người: "Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người này sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta?" (3) Ðức Giêsu trả lời: "Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng chuyện đó xảy ra là để các việc của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh.
(4) Chúng ta phải làm
những việc của Ðấng đã
sai Thầy,
khi trời còn sáng;
đêm đến, không ai có thể
làm việc được.
(5) Bao lâu Thầy còn ở thế
gian,
Thầy là ánh sáng thế gian".
(6) Nói xong, Ðức Giêsu nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù, (7) rồi bảo anh ta: "Anh hãy đến hồ Silôác mà rửa (Silôác có nghĩa là: người được sai phái). Vậy anh ta đến rửa ở hồ, và khi về thì nhìn thấy được.
(8) Các người láng giềng và những kẻ trước kia thường thấy anh ta ăn xin mới nói: "Hắn không phải là người vẫn ngồi ăn xin đó sao?" (9) Có người nói: "Chính hắn đó!" Kẻ khác lại nói rằng: "Không phải đâu! Nhưng là một đứa nào giống hắn đó thôi!" Còn anh ta thì quả quyết: "Chính tôi đây!" (10) Người ta liền hỏi anh: "Vậy, làm sao mắt anh lại mở ra được như thế?" (11) Anh ta trả lời: "Người tên là Giêsu đã trộn một chút bùn, xức vào mắt tôi, rồi bảo: 'Anh hãy đến hồ Silôác mà rửa'. Tôi đã đi, và sau khi rửa tôi nhìn thấy được". (12) Họ lại hỏi anh: "Ông ấy đâu?" Anh ta đáp: "Tôi không biết".
(13) Họ dẫn kẻ trước đây bị mù đến với những người Pharisêu. (14) Nhưng ngày Ðức Giêsu trộn chút bùn và làm mắt anh mở ra lại là ngày sabát. (15) Vậy, các người Pharisêu hỏi thêm một lần nữa làm sao anh nhìn thấy được. Anh trả lời: "Ông ấy lấy bùn thoa vào mắt tôi, tôi rửa và tôi nhìn thấy". (16) Trong nhóm Pharisêu, người thì nói: "Ông ta không thể là người của Thiên Chúa được, vì không giữ ngày sabát"; kẻ thì bảo: "Một người tội lỗi sao có thể làm được những dấu lạ như vậy?" Thế là họ đâm ra chia rẽ. (17) Họ lại hỏi người mù: "Còn anh, anh nghĩ gì về người đã mở mắt cho anh?" Anh đáp: "Người là một vị ngôn sứ!"
(18) Người Dothái không tin là trước đây anh bị mù mà nay nhìn thấy được, nên đã gọi cha mẹ anh ta đến. (19) Họ hỏi: "Anh này có phải là con ông bà không? Ông bà nói là anh bị mù từ khi mới sinh, vậy sao bây giờ anh lại nhìn thấy được?" (20) Cha mẹ anh đáp: "Chúng tôi biết nó là con chúng tôi, nó bị mù từ khi mới sinh. (21) Còn bây giờ làm sao nó thấy được, chúng tôi không biết, hoặc có ai đã mở mắt cho nó, chúng tôi cũng chẳng hay. Xin các ông cứ hỏi nó; nó đã lớn khôn rồi, tự nó nói về mình được." (22) Cha mẹ anh nói thế vì sợ người Dothái. Thật vậy, người Dothái đã đồng lòng trục xuất khỏi hội đường kẻ nào dám tuyên xưng Ðức Giêsu là Ðấng Kitô. (23) Vì thế, cha mẹ anh mới nói: "Nó đã khôn lớn rồi, xin các ông cứ hỏi nó".
(24) Một lần nữa, họ gọi người trước đây bị mù đến và bảo: "Anh hãy tôn vinh Thiên Chúa. Chúng ta đây, chúng ta biết ông ấy là người tội lỗi". (25) Anh ta đáp: "Ông ấy có phải là người tội lỗi hay không, tôi không biết. Tôi chỉ biết một điều: Trước đây tôi bị mù mà nay tôi nhìn thấy được!" (26) Họ mới nói với anh: "Ông ấy đã làm gì cho anh? Ông ấy đã mở mắt cho anh thế nào?" (27) Anh trả lời: "Tôi đã nói với các ông rồi mà các ông vẫn không chịu nghe. Tại sao các ông còn muốn nghe lại chuyện đó nữa? Hay các ông cũng muốn làm môn đệ ông ấy chăng?" (28) Họ liền mắng nhiếc anh: "Có mày mới là môn đệ của ông ấy; còn chúng ta, chúng ta là môn đệ của ông Môsê. (29) Chúng ta biết rằng Thiên Chúa đã nói với ông Môsê; nhưng chúng ta không biết ông ấy ở đâu mà đến". (30) Anh đáp: "Kể cũng lạ thật! Các ông không biết ông ấy bởi đâu mà đến, thế mà ông ấy lại là người đã mở mắt cho tôi! (31) Chúng ta biết: Thiên Chúa không nhậm lời những kẻ tội lỗi; còn ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý của Người, thì Người nhậm lời kẻ ấy. (32) Xưa nay chưa hề nghe nói có ai đã mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh. (33) Nếu không phải là người bởi Thiên Chúa mà đến, thì ông ta đã chẳng làm được gì". (34) Họ đối lại: "Mày sinh ra tội lỗi ngập đầu, thế mà mày lại muốn làm thầy chúng ta ư?" Rồi họ trục xuất anh.
(35) Ðức Giêsu nghe nói họ đã trục xuất anh, và khi gặp lại anh, Người hỏi: "Anh có tin vào Con Người không?" (36) Anh đáp: "Thưa Ngài, Ðấng ấy là ai để tôi tin?" (37) Ðức Giêsu trả lời: "Anh đã thấy Người. Chính Người đang nói với anh đây". Anh nói: "Thưa Ngài, tôi tin". Rồi anh sấp mình xuống trước mặt Người.
(39) Ðức Giêsu nói:
"Tôi đến thế
gian này
chính là để xét xử:
cho người không xem thấy được
thấy,
và kẻ xem thấy lại nên đui mù!"
(40) Những người Pharisêu đang đứng ở đó với Ðức Giêsu nghe vậy, liền lên tiếng: "Thế ra cả chúng tôi cũng đui mù hay sao?" (41) Ðức Giêsu bảo họ:
"Nếu các ông đui
mù,
thì các ông đã chẳng có
tội.
Nhưng giờ đây các ông nói
rằng: 'Chúng tôi thấy',
nên tội các ông vẫn còn!"
(1) "Thật, tôi bảo thật các ông: Ai không đi qua cửa mà vào ràn chiên, nhưng trèo qua lối khác mà vào, người ấy là kẻ trộm, kẻ cướp. (2) Còn ai đi qua cửa mà vào, người ấy là mục tử. (3) Người giữ cửa mở cho anh ta vào, và chiên nghe tiếng của anh; anh gọi tên từng con, rồi dẫn chúng ra. (4) Khi đã cho chiên ra hết, anh ta đi trước và chiên đi theo sau, vì chúng nhận biết tiếng của anh. (5) Chúng sẽ không theo người lạ, nhưng sẽ chạy trốn, vì chúng không nhận biết tiếng người lạ". (6) Ðức Giêsu kể cho họ nghe dụ ngôn đó. Nhưng họ không hiểu những điều người nói với họ.
(7) Vậy, Ðức Giêsu
lại nói:
"Thật, tôi bảo thật các ông:
Tôi là cửa cho chiên ra vào.
(8) Mọi kẻ đến trước tôi
đều là trộm cướp;
nhưng chiên đã không theo họ.
(9) Tôi là cửa
Ai qua tôi mà vào thì sẽ được
cứu.
Người ấy sẽ ra vào
và gặp được đồng cỏ.
(10) Kẻ trộm chỉ đến
để ăn trộm, giết hại và
phá hủy.
Phần tôi, tôi đến
để cho chiên được sống
và sống dồi dào.
(11) Tôi chính là Mục Tử nhân
lành.
Mục Tử nhân lành
hy sinh mạng sống mình cho chiên.
(12) Người làm thuê, vì không
phải là mục tử,
và vì chiên không thuộc về anh,
nên khi thấy sói đến, anh bỏ
chiên mà chạy.
Sói vồ lấy chiên và làm
cho chiên tán loạn,
(13) vì anh ta là kẻ làm thuê
và không thiết gì đến chiên.
(14) Tôi chính là Mục Tử nhân
lành.
Tôi biết các chiên của tôi
và chiên của tôi biết tôi,
(15) như Chúa Cha biết tôi
và tôi biết Chúa Cha,
và tôi hy sinh mạng sống mình cho chiên.
(16) Tôi còn có những chiên
khác
không thuộc ràn này.
Tôi cũng phải đưa chúng về.
Ch&