Ðức Mẹ Maria,

Niềm Ơn Phúc và Hy Vọng trong Chúa Kitô

 

Prepared for Internet by Vietnamese Missionaries in Asia

 

Tiền ngôn

Trong cuộc hành trình tiến đến sự hiệp nhất toàn diện, giáo hội Công giáo và các giáo hội liên hiệp Anh giáo, từ nhiều năm qua, đã chăm chú nghiên cứu một số vấn đề liên quan đến đức tin mà chúng tôi cùng chia sẻ, cũng như đến phương cách chúng tôi diễn đạt những vấn đề này trong đời sống và trong phụng vụ của hai giáo hội tin kính này. Chúng tôi đệ đạt những phát biểu đã được đôi bên đồng ý lên Toà Thánh và lên liên hiệp Anh giáo, để các vị có thẩm quyền bình luận và làm cho sáng tỏ vấn đề nếu cần, và chấp nhận như một đồng thuận của đức tin Anh giáo và Công giáo Roma.

Ðể đạt đến khuôn mẫu cho quyết nghị chung đó, chúng tôi dựa trên Thánh Kinh và trên truyền thống chung đã có từ trước thời Cải cách và Canh Tân. Như các tài liệu trước của Uỷ ban Quốc Tế Anh giáo và Công giáo Roma, với tài liệu này, chúng tôi sẽ tiếp tục cố gắng dùng ngôn từ chung, và thăng hoa các dị biệt trong quá khứ. Ðồng thời, chúng tôi phải đương đầu với các định nghĩa cơ bản tín điều tạo thành nền tảng và quen thuộc cho đức tin của người Công giáo Roma, nhưng lại rất lạ với đức tin Anh giáo. Các thành viên của Uỷ ban Quốc Tế Anh giáo và Công giáo Roma đã hết sức cố gắng tìm cách tháp nhập cách này hay cách khác một thần học cụ thể, và cùng nghiên cứu khung cảnh lịch sử mà nơi đó các tín điều đã phát triển. Ðể được như vậy, chúng tôi đã phải học hỏi để tiếp nhận những canh tân truyền thống riêng của mỗi tôn giáo, được soi sáng và đào sâu qua niềm hiểu biết và tri ân các truyền thống khác.

Quyết định chung liên quan đến đức Trinh Nữ Maria như tiến trình của niềm ân sủng và hy vọng là một suy tư mãnh liệt, khi cố gắng tìm kiếm những gì chúng tôi có chung, và cử hành những khía cạnh quan trọng trong gia tài chung của chúng tôi. Mẹ Maria, Mẹ của Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta, đứng trước chúng ta như một biểu tượng của sự vâng phục trung tín. Lời Mẹ nói "Xin Vâng như lời Ngài truyền" là câu trả lời đầy ân sủng mà mỗi người chúng ta cần đáp ứng với Chúa qua tư cách riêng hoặc tư cách chung như giáo hội là thân mình Ðức Kitô. Như hình ảnh của giáo hội, đôi tay của Mẹ đã đưa lên cao cầu nguyện và chúc tụng. Ðôi tay của Mẹ mở rộng như lãnh nhận và chào đón ơn Chúa Thánh Linh, khi chúng ta cùng nên một với Mẹ Maria lúc Mẹ chúc tụng Chúa. Qua Tin Mừng thánh Lu-ca, Mẹ đã hát bài ca: "Quả thật, từ nay muôn đời sẽ gọi tôi có phúc."

Cả hai truyền thống của chúng tôi đã chia sẻ nhiều lễ hội liên hệ đến Mẹ Maria. Từ những kinh nghiệm đó, chúng tôi thấy rằng, chính trong lãnh vực thờ phượng, mà chúng tôi nhận ra sự đồng thuận sâu thẳm của mình khi chúng tôi tạ ơn Ðức Chúa Trời đã ban Mẹ của Thiên Chúa cho chúng ta. Mẹ là đấng hiệp nhất với chúng tôi trong cộng đồng của yêu thương và của cầu nguyện, khi chúng tôi cùng hiệp thông với các thánh.

Tổng giám mục Alexander J. Brunett, Công giáo, đồng chủ tịch

Tổng giám mục Peter F. Carnley, Anh giáo, đồng chủ tịch

Tại Seattle, Lễ Dâng con trong đền thờ, Ngày 2 tháng 2 năm 2004

 

Hoàn cảnh bản văn

Tài liệu này được ấn hành do kết quả công việc của Uỷ ban Quốc Tế Anh giáo và Công giáo Roma. Ðây là bản tuyên ngôn chung. Các vị hữu trách khi bổ nhiệm uỷ ban, đã cho phép tài liệu xuất bản, mục đích sao cho nhiều nơi rộng rãi thảo luận. Giáo hội Công giáo và liên hiệp Anh giáo không dùng quyền bính tuyên bố phải tuân phục văn kiện này. Hai giáo hội sẽ học hỏi và lượng giá tài liệu theo đúng thời gian cần thiết.

Các trích dẫn từ Thánh Kinh do từ bản "New Resived Standard Version." Một vài trường hợp, uỷ ban dùng chính bản dịch của mình.

Dẫn nhập.

1. Khi tôn vinh Mẹ Maria là Mẹ Thiên Chúa, các thế hệ Anh giáo và Công giáo Roma cùng vang dội lên lời chào mừng của thánh I-sa-ve: "Em có phúc hơn các phụ nữ và Giêsu, quả phúc của lòng em đầy phúc lộc" (Lu-ca 1:42) Uỷ ban Quốc Tế Anh giáo và Công giáo Roma giờ đây mong ước đặt lời tuyên bố chung này về Mẹ Maria trong đời sống và đức tin của giáo hội với niềm hy vọng, tài liệu này diễn đạt đức tin chung của chúng ta về Ðấng, mà mọi tín hữu đều biết đã gần với Chúa Giêsu Kitô cứu thế, Chúa của chúng ta hơn cả. Chúng tôi làm việc này theo lời yêu cầu của hai giáo hội để trả lời các câu hỏi đã được đưa ra.

Một uỷ ban đặc biệt gồm các giám mục Anh giáo và Công giáo Roma đã nhóm họp dưới sự chủ tọa của tổng giám mục Canterbury, tiến sĩ George Carey, và Hồng y Edward I. Cassidy, chủ tịch Hội đồng giáo hoàng đặc trách hiệp nhất Kitô giáo. Uỷ ban đã họp tại Mississauga, Canada, vào năm 2000, nhằm mục đích yêu cầu Uỷ ban Quốc Tế Anh giáo và Công giáo Roma "học hỏi về Mẹ Maria trong đời sống và đức tin giáo hội." Lời yêu cầu này nhắc nhớ lại nhận xét của Bản báo cáo Malta (1986) rằng "những khác biệt thực sự hoặc hình như là khác biệt giữa chúng ta xuất hiện trong các vấn đề liên quan đến các tín điều về Ðức Maria, được tuyên tín vào năm 1854 và 1950 (1). Gần đây hơn, trong văn kiện Ut Unum Sint (1995) đức giáo hoàng Gioan Phaolo II xác định một lãnh vực mà mọi truyền thống Kitô giáo cần học hỏi thêm, trước khi đi đến sự đồng thuận chung về đức tin, đó là "Ðức trinh nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa và biểu tượng của giáo hội, Mẹ tinh thần, đấng cầu bầu cho các môn đệ Chúa Kitô và cho toàn thể nhân loại" (số 79)

2. Uỷ ban Quốc Tế Anh giáo và Công giáo Roma đã đề cập đến vấn đề này, tức là vấn đề "Ðức trinh nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa và biểu tượng của giáo hội, Mẹ tinh thần, đấng cầu bầu cho các môn đệ Chúa Kitô và cho toàn thể nhân loại" một lần. Văn kiện "Quà Tặng và Quyền bính trong giáo hội II" (1981) đã ghi nhận trình độ đồng ý như sau:

"Chúng tôi đồng ý xác quyết rằng chỉ có một đấng trung gian giữa Thiên Chúa và con người, đó là đức Giêsu Kitô. Chúng tôi phản bác bất cứ sự giải thích nào về vai trò của Ðức Maria, nếu những giải thích đó ngược với điều xác quyết trên. Chúng tôi đồng ý khi công nhận sự hiểu biết Kitô giáo về Mẹ Maria liên hệ chặt chẽ không thể rời khỏi các tín điều về Chúa Kitô và về giáo hội. Chúng tôi đồng ý khi công nhận ân sủng và và ơn gọi độc nhất của Mẹ Maria, Ðấng cưu mang Thiên Chúa (Theotokos) (2), đang khi cử hành các lễ hội về Mẹ theo sự tôn vinh dành cho Mẹ khi hiệp thông với các thánh. Chúng tôi đồng ý rằng Mẹ đã được chuẩn bị do ân sủng thần thiêng làm Mẹ đấng cứu chuộc của chúng ta. Chính nhờ Người mà chính Mẹ được cứu chuộc và được được vinh quang. Chúng tôi còn đồng ý hơn nữa khi công nhận Mẹ Maria là biểu tượng của sự thánh thiện, vâng phục và đức tin cho mọi Kitô hữu. Chúng tôi chấp nhận rằng cũng có thể nhìn đến Mẹ như khuôn mẫu sứ ngôn của giáo hội Chúa trước cũng như sau khi Chúa nhập thể (số 30)

Tuy nhiên, cùng bản văn đó đã đưa ra những khác biệt:

''Các tín điều về Ðức Mẹ vô nhiễm nguyên tội và linh hồn và xác lên trời đã đề ra một số vấn nạn cho những người theo Anh giáo. Họ nghĩ rằng các định nghĩa ngắn gọn trên, coi như là tín điều, đã không đủ chứng cớ trong Thánh Kinh. Với nhiều tín hữu Anh giáo, thì các lời huấn giáo dựa trên năng quyền của đức giám mục thành Roma, khi tuyên bố ngoài Công đồng, tức là những tín điều thuộc về Mẹ Maria, không coi là tín điều buộc mọi người tín hữu phải tin. Người Anh giáo cũng đặt câu hỏi rằng, trong tương lai, qua các sự kết hợp giữa hai tôn giáo, phải chăng họ cũng phải tuân theo các lời tuyên tín như vậy? (Số 30)

Những vấn đề nêu trên đã được đặc biệt ghi nhận trong bản văn trả lời chính thức của Toà Thánh cho ''Bản Tường Trình Cuối'' (năm 1991, số 13). Sau khi suy xét các niềm tin chung và các vấn nạn kể trên như điểm khởi hành cho các suy tư, giờ đây chúng tôi có thể khẳng quyết hơn nữa các đồng ý chung quan trọng về vị thế của Mẹ Maria trong đời sống và trong đức tin của giáo hội.

3. Văn kiện chung đại kết này đưa ra một thông cáo đầy đủ hơn về niềm tin của chúng tôi liên quan đến đức Trinh nữ Maria, đồng thời cung cấp nguồn mạch văn bản cho những tri ân chung khi nghiên cứu các tín điều thuộc về Mẹ Maria. Chúng tôi cũng thảo luận các khác biệt khi thực hành, bao gồm cả lời khẩn cầu minh nhiên dành cho Mẹ Maria. Bản văn kiện chung đại kết này đã xử dụng tài liệu văn bản nghiên cứu trước. Ðó là tài liệu ''Quà tặng và Quyền Bính'' (Gift and authority), xuất bản năm 1999. Từ đó, chúng tôi kết luận rằng khi giáo hội nhận và nhìn nhận điều mà giáo hội coi như sự diễn đạt chân chính của truyền thống đã trao ban cho các tông đồ, thì sự nhận biết đó là một tác động mang cả hai tính cách trung thành và tự do.

Tự do trả lời qua những phương cách sống động khi đối diện với các thách đố mới, chính là điều giúp giáo hội trung thành với truyền thống mà giáo hội đã sống. Ðôi lúc, một vài phần trong tông truyền có thể bị quên lãng, bị lờ đi hoặc bị lạm dụng. Trong những hoàn cảnh này, sự trở về nguồn Thánh Kinh và truyền thống dẫn đến sự mặc khải của Thiên Chúa trong Ðức Kitô: Chúng tôi gọi tiến trình này là tái đón nhận (Xc. "Quà tặng và Quyền Bính", 24-25). Tiến trình trong các cuộc đối thoại và tìm hiểu đại kết gợi ý rằng bây giờ là lúc chúng tôi có cơ hội để cùng tái đón nhận truyền thống mới về vị thế của Mẹ Maria trong ơn mặc khải của Thiên Chúa.

4. Ngay từ ban đầu, Uỷ ban Quốc Tế Anh giáo và Công giáo Roma đã cố gắng tìm kiếm các luận cứ chống đối hoặc ủng hộ nhằm khám phá và mở mang một gia tài đức tin chung (Xc. '"Quà Tặng và Quyền Bính" I, 25). Tiếp theo bản ''Tuyên ngôn chung'' năm 1966 của đức giáo hoàng Phaolo VI và đức tổng giám mục thành Canterbury, tiến sĩ Michael Ramsey, chúng tôi tiếp tục ''đối thoại nghiêm chỉnh.. dựa trên Phúc âm và trên truyền thống cổ thời chung.'' Chúng tôi đã đặt câu hỏi là, đến mức nào thì tín điều và sự sùng kính Mẹ Maria thuộc về ''sự đón nhận'' hợp thức của tông truyền, theo như Thánh Kinh dậy bảo. Truyền thống này có tận trong tâm điểm ''nhiệm cuộc cứu độ'' Ba Ngôi. Tâm điểm này làm nền tảng cho đời sống và đức tin của giáo hội trong sự hiệp thông thánh của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Chúng tôi đi tìm hiểu nhân vị và vai trò của Mẹ Maria trong lịch sử cứu độ và trong đời sống giáo hội dưới ánh sáng soi dẫn của thần học ân sủng và hy vọng. Nền thần học này đâm rễ sâu trong các kinh nghiệm dài lâu của phụng vụ và sùng mộ Kitô giáo.

5. Ân sủng của Chúa mời gọi và giúp người đáp trả (Xc. ''Ơn cứu chuộc và Giáo hội'' - Salvation and the Church - 1987, số 9). Các đoạn phúc âm về truyền tin, khi sứ thần kêu mời Mẹ Maria biểu lộ ân sủng này. Sự nhập thể và các chi tiết liên hệ, gồm cả trình thuật thương khó, chết và phục sinh của Chúa Kitô, sự chào đời của giáo hội, đã đạt đến cao điểm qua lời "Xin Vâng" đầy tự do của Mẹ Maria -' 'xin thể hiện nơi tôi theo như lời Ngài truyền'' (Lu-ca 1:38). Chúng ta còn nhận ra trong biến cố nhập thể Chúa đã nói ''Xin Nhận'' (3) với toàn thể nhân loại.

Ðiều này nhắc nhở chúng ta một lần nữa lời của thánh tông đồ trong thư thứ hai gửi giáo đoàn Corinthô 1: 18-20 (Xc. Quà Tặng và Quyền Bính, 8...). Tất cả những lời hứa của Chúa đã xuất hiện trong lời ''Xin Nhận'' của Con Chúa, Ðức Giêsu Kitô. Trong mạch văn Xin Vâng của Mẹ Maria, chúng ta trông thấy giây phút siêu vượt của người tín hữu nói lời Xin Vâng (Amen) khi đáp trả lại tiếng "Xin Nhận" của Chúa. Người môn đệ Kitô đáp trả bằng Xin Vâng trong lời kinh Amen (4). Họ biết rằng họ là con của cùng chung một cha trên trời, do cùng một Thánh Thần sinh ra, là anh chị em của Ðức Giêsu Kitô. Họ cùng hiệp thông một nguồn mạch tình yêu Ba Ngôi Thiên Chúa.

Ðức Maria cô đọng niềm hiệp thông đó trong đời sống Thiên Chúa. Câu trả lời của Mẹ không thiếu suy tư. Câu trả lời đã hoà lẫn giữa niềm vui và sầu muộn, dẫn đưa Mẹ đến tận chân thập giá của con mình. Khi các Kitô hữu hiệp ý cùng với Mẹ Maria trả lời Xin Vâng (Amen) với lời ''Xin Nhận'' của Thiên Chúa trong Ðức Kitô, họ đã chấp nhận trả lời cách vâng phục Lời Chúa là lời dẫn đưa đến đời sống cầu nguyện và phục vụ. Giống như Mẹ Maria, họ không chỉ tôn vinh Chúa bằng môi miệng: họ chấp nhận phục vụ công lý của Chúa bằng chính đời sống mình (Xc. Lu-ca 1: 46-55)

A. Mẹ Maria theo Thánh Kinh

6. Chúng tôi xác tín rằng Thánh Kinh, lời Chúa được viết ra (5) (tức là Thánh Kinh), là chứng nhân căn bản cho chương trình cứu chuộc của Chúa. Do đó, để hiểu về Mẹ Maria, cần nhìn đến Thánh Kinh. Quả thực, không thể trung thành với Thánh Kinh mà không nghiên cứu kỹ lưỡng Mẹ Maria. Tuy nhiên, chúng tôi nhìn nhận, trong một số thế kỷ, Anh giáo và Công giáo đã giải thích khác nhau. Khi cùng suy niệm đoạn Thánh Kinh liên quan đến Mẹ Maria, chúng tôi khám phá ra nhiều điểm hứng khởi trong cuộc đời của vị đại thánh này. Chúng tôi thấy mình đang suy niệm với lòng ngưỡng mộ và tri ân toàn thể tiến trình lịch sử cứu chuộc: sự tạo dựng, lựa chọn, nhập thể, thương khó và sống lại của Chúa Kitô, ân điển Chúa Thánh Thần trong giáo hội, và viễn kiến cuối cùng của dân Chúa hướng về cuộc sống đời đời trong sự tạo dựng mới.

7. Trong những đoạn kế tiếp, chúng tôi sẽ dùng Thánh Kinh rút ra truyền thống trọn vẹn của giáo hội, mà trong đó nhiều bài đọc khác nhau và phong phú đã được xử dụng. Trong tân ước, cựu ước thường được dùng để cắt nghĩa bóng (6). Các biến cố và hình ảnh mang ý nghĩa riêng nhắm đến Chúa Kitô. Các vị giáo phụ và các nhà giảng thuyết thời trung cổ đã khai triển rộng rãi phương cách này. Các vị thời Phục Hưng (7) khi nhấn mạnh đến nét trong sáng và vẹn toàn của Thánh Kinh, đã kêu gọi người nghe hãy trở về nguồn tâm điểm của Thánh Kinh. Các phương cách phê bình lịch sử cố gắng tìm ra ý nghĩa mà các tác giả Thánh Kinh muốn nhắm đến và nhìn nhận giá trị nguyên gốc văn bản. Mỗi phương pháp trên có giới hạn của mình, và dễ đưa đến sự quá trớn hoặc mất thăng bằng: nghĩa bóng có thể trở thành quá đáng, Phục hưng nhấn mạnh đến giảm trừ, còn phê bình lịch sử thì quá chú tâm vào lịch sử. Các phương cách nghiên cứu Thánh Kinh gần đây đã đưa ra một khoảng đo lường dành cho các bài đọc, nhất là những bài về mang tính cách trình thuật, hùng biện hoặc xã hội.

Trong bản thông cáo chung này, chúng tôi tìm kiếm giá trị của mỗi phương cách trên cũng như sửa sai và đóng góp vào việc xử dụng Thánh Kinh. Hơn nữa, chúng tôi nhìn nhận rằng, không có văn bản nào hoàn toàn trung lập, nghĩa là mỗi bản văn hình thành do mạch văn và do cảm nhận của người đọc. Văn bản của chúng tôi lấy ra theo mạch văn đối thoại giữa hai tôn giáo trong Ðức Kitô, nhắm đến sự hiệp thông theo như ý của Người. Do đó, đây là văn bản mang tính cách đại kết và giáo hội, đang khi chúng tôi cố gắng hiểu biết về Ðức Maria trong mạch văn tân ước như nguồn mạch trọn vẹn, và cũng dựa trên cựu ước cũng như ánh sáng truyền thống.

Chứng nhân Thánh Kinh: Một dự phóng của Ân Sủng và Hy vọng

8. Cựu ước làm chứng công trình tạo dựng nên người nam và người nữ theo hình ảnh của Chúa, làm chứng cho lời mời gọi đầy yêu thương của Chúa với con người qua các liên hệ Giao ước. Ngay cả khi con người bất tuân, Chúa cũng không bỏ quên họ trong tội và trong quyền lực của sự chết. Lần này qua lần khác, Chúa mời gọi con người đến với giao ước ân sủng. Chúa thiết lập giao ước với ông No-e khi hứa rằng sẽ chẳng bao giờ "con người" bị lụt hồng thủy hủy hoại. Chúa thiết lập giao ước với Abraham và qua ông, mọi gia đình trên mặt đất sẽ được chúc phúc. Qua Mai-sen, Ngài thiết lập giao ước với dân Israel, nếu họ vâng lời Ngài, họ sẽ trở thành quốc gia thánh thiện và dân tộc tư tế.

Các ngôn sứ liên tục mời gọi dân chúng lìa bỏ sự bất tuân phục, trở về với Chúa nhân hậu của giao ước, lãnh nhận lời Chúa và để lời Chúa sinh nhiều hoa trái trong cuộc đời. Các ngài hướng về sự canh tân giao ước, trong đó bao gồm một sự vâng phục trọn vẹn và một sự hiến thân trọn vẹn: "Ðây là giao ước Ta sẽ thiết lập với nhà Israel sau những ngày này, Chúa nói: Ta sẽ đặt luật của Ta trong họ, và Ta sẽ viết luật trong tim họ. Ta sẽ là Chúa của họ, và họ sẽ là dân của Ta" (Jerêmia. 31: 33). Trong lời tiên tri của ngôn sứ Ezechiel, hy vọng này không chỉ mang ý nghĩa tẩy sạch và rửa sạch, nhưng còn là ơn Chúa Thánh Thần (Ezêchiel 36: 25-28)

9. Giao ước giữa Thiên Chúa với dân Ngài đã nhiều lần giống như mối tình giữa Chúa với Israel, người con gái trinh nữ Zion, hiền thê và mẹ: "Ta long trọng thề với bạn và ký kết giao ước với bạn, Chúa toàn năng phán, và bạn thuộc về Ta (Ezêchiel 16:8; Xc. Isaia. 51:4, Galat 4: 27). Ngay cả khi trừng phạt dân cứng lòng, Chúa vẫn luôn trung tín, hứa sẽ tái lập liên hệ giao ước và quy tụ dân bị tản mác lại (Hosea. 1-2; Jerêmia. 2: 2, 31: 3; Is. 62: 4-5). Hình ảnh ngày cưới cũng được dùng trong Tân ước để diễn tả liên hệ giữa Chúa Kitô với giáo hội (Êphêsô. 5: 21-33; Khải huyền 21: 9)

Song song với hình ảnh tiên tri về Israel như hiền thê của Chúa, văn chương Salomon (8) của cựu ước diễn đạt ơn Khôn ngoan thánh như nữ tì của Chúa (Cách ngôn. 8: 22..; Xc. Khôn ngoan 7: 22-26). Salomon đồng thời cũng nhấn mạnh đến sự đáp trả và sinh hoạt tạo dựng. Trong tân ước, các lý do tiên tri và khôn ngoan này gồm chung thành một với nhau (Lu-ca: 11: 49) và hoàn tất khi Chúa đến.

10. Thánh Kinh cũng nói đến việc Chúa gọi riêng một số người như David, Elia, Giêremia và Isaia, nhờ đó có những người riêng biệt làm các công tác riêng biệt. Họ làm chứng cho ân điển của Thánh Thần hoặc sự hiện diện của Chúa, chu toàn ý định và chương trình của Chúa. Người ta cũng tìm thấy nhiều đoạn suy tư sâu thẳm về điều Chúa cho biết và mời gọi dành riêng cho một người nào đó từ thưở ban đầu của người này (Thánh vịnh 136: 13-16; Jer. 1:1-5).

Cảm giác thán phục về ân điển theo thời gian (prevenient grace) của Chúa đã biểu lộ cách tương tự như vậy, nhất là trong thư của thánh Phaolô khi ngài nói đến "những người được gọi theo chương trình của Chúa," khẳng định rằng những ai Chúa đã "biết từ trước, ngài cũng tiền định cho xứng hợp với hình ảnh người con của Ngài... Và những ai Ngài tiền định, Ngài đã kêu gọi; và những ai Ngài kêu gọi, Ngài cũng Công chính hóa; và những ai Ngài công chính hóa, Ngài đã tôn vinh họ (Roma. 8: 28-30; Xc. 2 Timothê 1: 9). Sự chuẩn bị của Chúa cho một nhiệm vụ sứ ngôn còn lộ rõ qua thí dụ cụ thể, là lời sứ thần nói với tiên tri Zacharia trước khi Gioan tiền hô sinh ra: "Trẻ sẽ tràn đầy ơn Thánh Thần ngay từ trong lòng Mẹ" (Luca 1: 15; Xc. Quan án 13:3-5)

11. Tiếp theo dự phóng của ân sủng Thiên Chúa và hy vọng con người đáp trả trọn vẹn lời mời gọi của Chúa như chúng ta đã trình bầy ở các chương trên, người Kitô hữu phải, hiệp ý với các tác giả viết tân ước, nhìn thấy cao điểm của dự phóng này trong sự tuân phục của Ðức Kitô. Trong mạch văn Kitô học, họ nhận ra một tiến trình tương tự trong nhân vật sẽ đón nhận Lời trong tim và trong thân xác của chị, được Thánh linh bao phủ và sinh ra con Thiên Chúa. Tân ước không chỉ nói đến tiến trình Chúa chuẩn bị cho Người Con giáng trần, mà còn nói đến Chúa tuyển chọn, mời gọi và thánh hóa một phụ nữ Do Thái theo cung cách tương tự trường hợp của các phụ nữ thánh thiện như Sarah và Hannah, là những người mà con của các bà đã hoàn thành chương trình của Thiên Chúa với dân Ngài.

Phaolô nói về con Thiên Chúa sinh ra "trong thời viên mãn" và"do một người phụ nữ, sinh ra dưới lề luật" (Gal 4:4). Sự giáng sinh của Người Con Mẹ Maria là sự viên mãn của ý Chúa cho dân Israel, và thông phần của Mẹ Maria trong sự viên mãn là lời đáp trả tự do và chấp nhận tin tưởng bằng lòng dâng hiến chính mình: "Này tôi là tôi tá Ðức Chúa Trời, tôi xin vâng như lời sứ thần truyền" (Lu-ca 1: 38; Xc. TV 123:2)

Mẹ Maria sinh con theo trình thuật Mát-thêu

12. Trong khi nhiều đoạn trong tân ước đề cập đến Chúa Kitô giáng sinh, chỉ có hai phúc âm, Mát-thêu và Lu-ca, mỗi phúc âm theo ý hướng của mình, kể lại câu truyện giáng sinh và đề cập cách đặc biệt đến Mẹ Maria. Mát-thêu khởi đầu cho sách tin mừng với "gia phả Ðức Giêsu Kitô" (1:1) khiến người đọc liên tưởng đến cách mà Thánh Kinh bắt đầu (Sáng thế ký 1:1). Trong đoạn gia phả, Mát-thêu đi lên nguồn gốc của Chúa Giêsu từ cuộc lưu đầy, đến vua David, cho đến nguồn Abraham. Thánh nhân nhắc nhở vai trò quan trọng trong lịch sử cứu chuộc Israel do 4 phụ nữ mà mỗi người đưa dẫn đến tận biên giới của giao ước.

Như chúng ta thấy, Mát thêu đã cân bằng các biến cố xoay quanh việc nhập thể của Chúa Giêsu bằng cách nhấn mạnh tính liên tục của các thế hệ trong cựu ước, song song với trình thuật Chúa Giêsu giáng sinh, khi nhấn mạnh đến sự tái tạo mới (Xc. 9: 17) do Chúa Thánh Thần, mặc khải những khả năng cứu chuộc khỏi tội (1: 21). Hơn nữa, Mát-thêu còn mở rộng giới hạn khi đề cập đến nguồn gốc của Chúa Giêsu từ ngành David qua người cha hợp pháp là Giuse, và Chúa giáng sinh qua cung lòng của đức Nữ trinh theo lời tiên tri Isaia tiên báo "Này đây một trinh nữ sẽ thụ thai và sinh một con trai" (Is. 7: 14)

13. Trong văn bản Mát-thêu, tác giả nhắc đến Mẹ Maria khi có những liên quan giữa Mẹ và con của mình qua những câu như " Maria Mẹ Người" hoặc "trẻ thơ với Mẹ Người" (2:11; 13, 20, 21). Giữa những biến động chính trị, giết chóc và hỗn loạn, đã có một giây phút thinh lặng đầy tôn kính mang tính cách rất Kitô: Các nhà đạo sĩ, mà nghề nghiệp của họ xuất hiện theo đúng thời gian, quỳ gối tôn phục trẻ thơ là vua, cùng với mẫu nghi Mẹ Người (2: 2, 11)

Mát-thêu nhấn mạnh sự liên tục của Chúa Giêsu Kitô vào tiến trình trông chờ cứu chuộc, và một tiến trình Mesia mới lạ mà người Do thái vẫn trông chờ, do Chúa giáng sinh mang lại. Sinh ra từ dòng dõi David, dù bằng cách nào đi nữa, và sinh trong thành thánh, vương giả, biểu lộ cho thấy điều thứ nhất, tức là sự trông chờ cứu chuộc. Mang thai từ cung lòng trinh nữ mặc khải điều thứ nhì, tức là sự mới lạ Mesia.

Mẹ Maria sinh con theo trình thuật Lu-ca

14. Theo trình thuật Lu-ca, thì vai trò Ðức Mẹ Maria nổi bật ngay từ đầu. Mẹ là gạch nối giữa thánh Gioan Tẩy giả và Chúa Giêsu. Hai vị chào đời với nhiều phép lạ tương đồng. Mẹ nhận lời sứ thần truyền và đáp trả trong tâm tình vâng phục khiêm cung (1: 38). Mẹ tự du hành từ Galilê đến Ju-đê-a viếng thăm bà Isave (1:40). Qua bài ca, Mẹ đã chúc tụng chương trình cánh chung, chương trình sẽ là tâm điểm cho con của Mẹ rao giảng Nước Trời.

Maria là đấng suy niệm trong lòng những biến cố đang xẩy ra (2: 19, 51) và biểu lộ chiều sâu của đức tin và của những khổ đau (2: 35). Mẹ đã thay mặt Giuse đi tìm Chúa Giêsu trong đền thờ, dù thoạt đầu có vẻ Mẹ đã không tiếp nhận trọn vẹn những gì con nói, nhưng đã tiếp tục lớn lên trong sự hiểu biết (2: 48-51).

15. Trong trình thuật Lu-ca, hai biến cố đặc biệt mời chúng ta suy nghĩ về chỗ đứng của Mẹ Maria trong đời sống giáo hội: truyền tin và đi viếng bà thánh Isave. Những đoạn văn này nhấn mạnh cho thấy Mẹ Maria trong một cách duy nhất, đã là người lãnh nhận ân sủng và được Chúa chọn cách đặc biệt.

Trình thuật truyền tin tóm gọn nhiều đề tài lớn trong cựu ước, nhất là đề tài về sự chào đời của Isaac (Sáng thế ký 18: 10-14), Samson (Quan án 13: 2-5) và Samuel (1 Sam 1: 1-20). Sứ thần chào mừng khiến người đọc liên tưởng các đoạn văn trong Isaia (66: 7-11), Zecharia (9: 9) và Zephania (3: 14-17). Những đoạn văn này nhắc nhở "người con gái Sion", cụ thể hơn, việc Israel đang vui mừng chờ đợi Chúa đến. Sự lựa chọn của bao trùm (eposkiasei) để diễn tả hành động của Chúa Thánh Thần trong việc trinh nữ thụ thai, nhắc nhở hành động thiên thần Cherubim bao trùm hòm bia thánh (Xuất hành 25: 20), sự hiện diện của Chúa bao trùm cung thánh (xuất hành 40: 35) và Thánh Thần bao phủ nước vào thời điểm sáng tạo (Sáng thế ký 1:2)

Trong trình thuật viếng bà thánh Isave, bài ca của Mẹ Maria (Magnificat) chiếu rọi bài ca của Hannah (1 Samuel 2: 1-10), mở rộng tầm nhìn cho thấy chính Mẹ là người nói thay cho tất cả mọi người nghèo khổ, bị áp bức đang mong chờ nước công bằng của Chúa ngự đến. Ðúng như lời chào mừng của Isave, Mẹ đã nhận lời chúc phúc dành cho chính mình, khác với lời chúc phúc dành cho con (1: 42). Cũng chính trong Magnificat, Mẹ đã tiên đoán "từ nay muôn đời sẽ khen tôi có phúc" (1: 48). Văn bản cho mọi người thấy, ngay với nền tảng Thánh Kinh, Mẹ xứng đáng được tôn kích cách thích hợp, dù cho vai trò này không bao giờ tách rời ra khỏi vai trò của Mẹ là Mẹ đấng Mesia.

16. Trong câu truyện truyền tin, sứ thần gọi Mẹ là người được Chúa ưu đãi (tiếng Hy lạp là kecharitmene, nghĩa là người đang và tiếp tục lãnh nhận ân sủng) theo phương cách hiểu là, Mẹ được thánh hóa cách tiên thiên nhờ ân sủng của Chúa khi sắp đặt chương trình gọi Mẹ. Lời tuyên bố của sứ thần liên kết Chúa Giêsu "thánh thiện" và "con Thiên Chúa" với tiến trình nhập thể do Chúa Thánh Thần (1: 35). Sự thụ thai mà vẫn còn đồng trinh như thế nhắm đến vai trò làm con của Chúa cứu thế, đấng sẽ sinh ra từ cung lòng Mẹ Maria. Isave cho thấy trẻ sắp là Thiên Chúa: "Bởi đâu tôi được Mẹ Thiên Chúa đến viếng thăm" (1: 43)

Qua những trình thuật trên, tiến trình Ba Ngôi trong các tác động thánh nhấn mạnh vào: sự nhập thể của Người Con đã khởi đầu, do Chúa Cha lựa chọn đức trinh nữ Maria và Chúa Thánh Thần đóng vai trò trung gian. Tương đồng, lời Fiat, Xin Vâng của Mẹ với lời kêu gọi của Chúa do sứ thần chuyển đến, đã được trả lời trong đức tin và trong tự do (1: 38).

17. Theo trình thuật Lu-ca về Chúa Giêsu giáng sinh, bài ca chúc tụng mục đồng dâng lên Chúa, song song với lời thờ lậy của các đạo sĩ dành cho hài nhi trong trình thuật theo Mát-thêu. Lại một lần nữa, những trình thuật này cho thấy trọng tâm của câu truyện giáng sinh "Họ trông thấy Maria và Giuse và hài nhi nằm trong máng cỏ" (Lu-ca 2: 16). Theo luật Môi sen, các trẻ trai sẽ chịu cắt bì và dâng trong đền thờ. Dịp này Simeon đã nói lời tiên tri đặc biệt về Mẹ của trẻ Kitô "lưỡi gươm sẽ đâm thâu qua tâm hồn bà" (Lu-ca 2: 34-35). Từ điểm này, cuộc hành trình đức tin của Mẹ Maria dẫn đưa đến chân thập giá.

Thụ thai đồng trinh

18. Tin mừng thụ thai đồng trinh nhờ tác động của Chúa Thánh Thần, (Mat-thêu 1: 20-23; Lu-ca 1: 34-35) đã tuyên bố giây phút khởi đầu thần thiêng của lịch sử nhân loại. Sự thụ thai đồng trinh xẩy ra trong sự thiếu vắng, nói rõ ra là sự thiếu vắng người cha nhân loại. Tuy nhiên, trên thực tế, sự thiếu vắng càng cho thấy dấu chỉ hiện diện và tác động của Chúa Thánh Thần. Niềm tin tưởng vào sự thụ thai đồng trinh, đã nằm trong truyền thống cổ thời, rồi thích ứng và phát triển cách độc lập trong Mát-thêu và Lu-ca (9). Với người tín hữu Kitô giáo, tin tưởng này là một bằng chứng hùng hồn về vai trò làm con của Chúa Kitô và của đời sống mới trong Thánh linh.

Thụ thai đồng trinh cũng biểu lộ một sự chào đời mới của mỗi Kitô hữu như dưỡng tử của Chúa. Mỗi người tái sinh (từ trên) do nước và Thánh Thần" (Gioan 3: 3-5). Dưới ánh sáng này, thụ thai đồng trinh, không thể được coi là một phép lạ lẻ loi, nhưng chính là một diễn đạt mạnh mẽ điều mà giáo hội tin tưởng về Thiên Chúa và về ơn cứu chuộc của mình.

Mẹ Maria và gia đình thật của Chúa Giêsu

19. Sau những truyện về giáng sinh là một sự kiện lạ mà cả 3 phúc âm nhất lãm đều kể lại, liên quan đến câu hỏi về gia đình thật của Chúa Giêsu. Thánh Marcô cho chúng ta nghe "Mẹ và anh em của Người" (10) (Mk 3: 31) đến và đứng bên ngoài, muốn nói chuyện với Người (11). Chúa Giêsu, khi trả lời, đã tách mình ra khỏi gia đình thể xác tự nhiên: Thay vào đó, Người nói đến những người đang tụ họp chung quanh, đến gia đình "cánh chung" của Người, đến những "ai làm theo ý Chúa." (3: 35)

Với Marcô, gia đình tự nhiên của Chúa, kể cả Mẹ ruột của Người, hình như, vào giai đoạn này, chưa hiểu bản tính thực sự sứ vụ của Người. Ðó cũng là trường hợp của các môn đệ (thí dụ 8: 33-35; 9: 30-33; 10: 35-40). Marcô còn tỏ cho thấy sự hiểu biết về gia đình thật của Người phát triển chậm và đầy đau đớn. Ðức tin thực sự trong Chúa đã chỉ đạt được khi các môn đệ đối diện với thập giá và mồ trống.

20. Trong tin mừng Lu-ca, Luca đã không nhắc nhở đến điểm tương phản giữa hình thức tìm kiếm gia đình tự nhiên của Người và gia đình cánh chung (Lu-ca 8: 19-21). Về sau (11: 27-28) một phụ nữ trong đám đông nói về Mẹ Người đầy phúc lộc "Thật diễm phúc cho cung lòng đã hoài thai Người và vú đã cho Người bú" được sửa thành "người nghe lời Chúa và giữ lời Chúa thì còn có phúc hơn." Tuy nhiên, hình thức chúc lành này, như Lu-ca trình bầy, đương nhiên bao gồm cả Mẹ Maria, là đấng mà ngay từ đầu tiên đã để mọi biến cố trong cuộc đời mình xẩy ra theo lời Chúa (1:38)

21. Trong sách thứ nhì, Công Vụ các Tông Ðồ, Lu-ca ghi nhận thời gian giữa lúc Chúa phục sinh lên trời và Chúa Thánh Thần hiện xuống, các môn đệ tụ họp tại Giêrusalem "cùng với các phụ nữ và Ðức Maria, Mẹ Chúa Giêsu, và anh em của Người (TÐCV 1: 14). Ðức Maria, người đã chấp nhận công tác của Thánh Thần Thiên Chúa vào lúc đấng Mesia giáng sinh (Lu-ca: 1: 35-38), nơi đây, đã hiện diện như một thành viên trong cộng đoàn môn đệ đang chờ đợi cầu nguyện Chúa Thánh Thần đến vào thời điểm giáo hội chào đời.

Mẹ Maria trong tin mừng theo Gioan

22. Tiền ngôn tin mừng theo Gioan đã không nhắc nhở đến Maria cách minh nhiên. Tuy nhiên, cần tìm hiểu nhiều điểm đáng lưu tâm nơi vai trò của Mẹ trong lịch sử cứu chuộc, bằng cách đặt Mẹ vào mạch văn các chân lý thần học, mà vị thánh sử đã diễn đạt khi khai mở tin mừng nhập thể. Ðiểm nhấn mạnh thần học giây phút thần thiêng của chương trình cứu độ, mà Mát-thêu và Lu-ca đã bầy tỏ khi Chúa giáng sinh, đã cùng song song với tự ngôn theo Gioan, khi Gioan nhấn mạnh ân sủng và ý muốn tiền định của Chúa; qua đó, tất cả những ai sinh ra trong đời sống mới, sinh ra "không bởi máu huyết, không bởi ý người phàm, không bởi ý đàn ông, nhưng bởi Chúa (Gioan 1:13). Ðây là những lời được áp dụng ngay cả cho việc chính Chúa giáng sinh.

23. Gioan ghi nhận sự hiện diện của Mẹ Maria, Mẹ Chúa nơi hai biến cố quan trọng trong cuộc đời công khai của Chúa, lúc khởi đầu (tiệc cưới Cana) và kết thúc (thập giá). Mỗi biến cố là một giờ cần thiết: giờ đầu, sự hiện diện của Mẹ mờ nhạt bên ngoài; nhưng đó chính là dấu chỉ báo trước cho giờ sau với sự tham dự sâu thẳm hơn trong nội tâm. Gioan đưa ra vai trò nổi bật trong tin mừng của mình, biến cố tiệc cưới Cana (Gioan 2: 1-12). Gioan coi đó như khởi sự (arche) các dấu chỉ của Chúa Giêsu. Biến cố nhấn mạnh đến rượu mới mà Chúa biến từ nước, cho thấy tiệc cưới cánh chung của Thiên Chúa với dân Ngài và tiệc cưới thiên sai của nước trời. Câu truyện trước hết nhằm mang một sứ điệp Kitô: Chúa Giêsu mặc khải vinh quang thiên sai của Người cho các môn đệ, và họ đã tin vào người (2:11).

24. Phần đầu câu truyện nhắc đến sự hiện diện của "Mẹ Ðức Giêsu": Mẹ đóng vai trò nổi bật khi câu truyện lần lần tỏ hiện. Mẹ hình như được mời và hiện diện riêng rẽ chứ không cùng với "Chúa Giêsu và các môn đệ của Người" (Gioan 2: 1-2); Chúa Giêsu, lúc ban đầu, xuất hiện như một phần tử trong gia đình Mẹ của Người. Trong cuộc đàm thoại giữa hai Mẹ con khi hết rượu, hình như Chúa từ chối lời xin của Mẹ, nhưng cuối cùng, Người nhận lời.

Tuy nhiên, bài đọc này đưa dẫn chúng ta đến một dấu chỉ suy tư sâu xa hơn nữa. Theo lời của Mẹ "họ hết rượu rồi," Gioan đã không muốn nhắm đến đám cưới thiếu thốn, cho bằng niềm mong ước ơn cứu chuộc của dân tộc thuộc về giao ước cũ, là những người có nước thanh tẩy, nhưng thiếu rượu vui mừng của nước trời thiên sai. Trong câu trả lời, Chúa Giêsu bắt đầu bằng câu hỏi về liên hệ của Chúa với Mẹ mình ("việc gì giữa bà và tôi?") cho thấy cách mặc nhiên rằng đến lúc cần thay đổi giao ước này. Chúa đã không gọi Ðức Maria là Mẹ, nhưng dùng chữ bà (Xc. Gioan 19:26). Ðức Giêsu đã không chỉ thấy liên hệ của Người với Mẹ Maria đơn thuần trên khía cạnh con người.

25. Câu trả lời của Maria, dậy bảo các người tớ "hãy làm những gì Người bảo" (Gioan 2: 5) thực là không lường trước. Mẹ không phải là người cầm đầu bữa tiệc (Xc. 2:8). Vai trò của Mẹ lúc ban đầu là Mẹ Chúa Giêsu cũng đã thay đổi tận gốc. Mẹ trở thành một tín hữu trong cộng đoàn chờ ơn cứu chuộc. Từ giây phút này trở đi, Mẹ hoàn toàn phó thác mình vào đấng Thiên sai cứu chuộc và vào lời Người.

Những kết quả của mối tương giao mới cho thấy thay đổi theo thứ tự những nhân vật chính vào cuối câu truyện: "Sau đó, Người đi xuống Capernaum cùng với Mẹ và với anh chị em của Người cũng như với các môn đệ" (2: 12). Trình thuật tiệc cưới Cana khai mở bằng cách đặt Chúa Giêsu trong gia đình Mẹ Maria, Mẹ Người; từ nay trở đi, Mẹ Maria là một thành viên trong "đoàn thể Giêsu," là môn đệ của Chúa. Ðọc đoạn văn này sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn vai trò của Mẹ Maria: giúp cho các môn đệ đến với Chúa Giêsu Kitô, và "làm những gì Người bảo."

26. Gioan, lần thứ nhì nói về sự hiện diện của Mẹ Maria vào thời điểm quyết định của sứ vụ thiên sai nơi Chúa Giêsu, lúc tử nạn (19: 25-27). Ðứng cùng với các môn đệ dưới chân thập giá, Mẹ Maria chia sẻ đau khổ của Chúa Giêsu, là đấng mà vào cuối đời đã nói những lời đặc biệt với Mẹ "Thưa bà, đây là con bà," và với người môn đệ yêu quý "đây là Mẹ con." Chúng ta thực không thể không cảm động khi thấy ngay cả đến giây phút cuối cuộc đời, Chúa Giêsu vẫn còn lo lắng cuộc đời của me, cho thấy tình yêu con thảo với Mẹ hiền.

Bài đọc này lần nữa mời gọi chúng ta đến ý tưởng điển hình và mang tính cách toàn diện của văn mạch theo Gioan. Lời trăn trối của Chúa Giêsu trước khi chết, khai mở sự hiểu biết vượt trên sự hiểu biết lần đầu dành cho Mẹ Maria và cho "người môn đệ yêu quý" như những cá nhân. Tương quan giữa "bà" và "môn đệ" liên hệ chặt chẽ với căn tính của giáo hội. Tại một nơi khác, Gioan, người môn đệ yêu quý, xuất hiện như môn đệ khuôn mẫu của Giêsu. Người môn đệ này luôn gần gũi với thầy, không bao giờ lìa bỏ thầy, là đối tượng Chúa yêu thương và là chứng nhân trung tín (13: 25; 19: 26, 20: 1-10, 21: 20 - 25). Hiểu biết các từ ngữ và ý nghĩa về môn đệ tính, những lời của Giêsu khi gần tử nạn, đã biểu dương vai trò từ mẫu của Mẹ trong giáo hội, và khuyến khích cộng đoàn môn đệ nhận Mẹ là Mẹ tinh thần của mình.

27. Sự hiểu biết đầy đủ từ ngữ "bà" cũng mời gọi giáo hội liên tục nhớ lời trăn trối của Chúa, và mời gọi mỗi môn đệ lo lắng cho giáo hội là Mẹ. Một cách mặc nhiên, nơi đây có lẽ là hình ảnh Maria-Evà: Như người phụ nữ đầu tiên, rút ra từ xương sườn ông Adong (Sách thế ký 2:22, LXX), và là Mẹ của chúng sinh (Sáng thế ký 3: 20) thì người phụ nữ, "bà" Maria, trên bình diện tinh thần, cũng là Mẹ của mọi người, nhận lãnh sự sống đời đời từ nước và máu chẩy ra từ cạnh sườn (tiếng Hy lạp là pleura, tức là sườn) của Ðức Kitô (19: 34), và từ Thánh Linh, Ðấng thở hơi trên lễ vật toàn thắng (19: 30, 20: 22, Xc. 1 Gioan 5: 8).

Từ những bài đọc mang tính dấu chỉ và toàn bộ như vậy, hình ảnh về giáo hội, về Mẹ Maria và về môn đệ tính liên kết với nhau. Maria, như một Israel nhân cách hóa, bây giờ sinh ra cộng đoàn Kitô hữu (Xc. Is, 54: 2, 66: 7-8) như khi xưa Mẹ đã sinh ra Ðấng Thiên sai (Xc. Is 7: 14). Khi nhìn đến văn mạch của Gioan về Maria trong tiến trình khai mở và kết thúc sứ vụ của Chúa Giêsu theo ánh sáng này, thì thực khó có thể nói về giáo hội mà không nhớ đến Mẹ Maria, Mẹ Chúa cứu thế, như là đấng đại biểu tượng và đấng mà Chúa muốn mọi người trở thành.

Người nữ trong Khải Huyền 12

28. Trong mạch văn ngôn ngữ đầy những hình ảnh Thánh Kinh, tiên kiến (seer) của khải huyền diễn tả một viễn kiến dấu chỉ trên thiên đàng liên quan đến người phụ nữ, con rồng và con của phụ nữ. Trình thuật chương 12 Khải huyền cho người đọc nhận ra chiến thắng chung cuộc của người tôi trung Chúa vào thời gian họ bị bách hại và bị thử thách ở thời điểm cánh chung. Theo tiến trình lịch sử, ẩn tượng của người phụ nữ dẫn đưa đến nhiều giải thích khác nhau. Ða số các vị nghiên cứu thần học đều đồng ý, ý nghĩa căn bản của hình ảnh người phụ nữ mang tính cách tập hợp: dân Chúa, dù đó có thể là dân Israel, hoặc là giáo hội của Chúa Kitô, hoặc cả hai. Hơn nữa, văn phong trình thuật của tác giả gợi ý "trọn vẹn bức ảnh" của người phụ nữ chỉ được nhận ra vào phần cuối cuốn sách, khi giáo hội chiến thắng của Chúa Kitô trở nên Tân Giêrusalem chiến thắng (Khải huyền 21: 1- 3). Những khó khăn hiện tại của cộng đồng mà tác giả đang sống xuất hiện trong khung cảnh toàn bộ lịch sử, một khung cảnh mà nơi đó các tranh chấp tiếp tục diễn ra giữa người trung tín và kẻ thù của họ, giữa thiện và ác, giữa Thiên Chúa và quỷ Satan. Hình ảnh dòng dõi người con nhắc nhở chúng ta sự tranh chấp trong Sáng thế ký 3: 15 giữa con rắn và người phụ nữ, giữa dòng dõi con rắn và dòng dõi người phụ nữ (12).

29. Nhìn nhận lối giải thích này làm căn bản cho chương 12 của sách Khải huyền về giáo hội, phải chăng người ta còn có thể áp dụng, như lối giải thích thứ hai, về Mẹ Maria nữa chăng? Bản văn không minh nhiên đồng hóa người phụ nữ với Mẹ Maria. Bản văn đề cập đến người phụ nữ như là Mẹ của "trẻ nam, là người sẽ cai trị mọi dân tộc với gậy sắt," một lời trích dẫn từ thánh vịnh 2 áp dụng vào đấng thiên sai cũng như vào dân trung tín của Chúa trong Tân ước (Xc. Do Thái 1: 5; 5: 5; TÐCV 13: 33 với Khải huyền 2: 27).

Theo chiều hướng đó, một số vị giáo phụ nghĩ đến hình ảnh của Mẹ Chúa Giêsu khi đọc chương này (13). Khi chú tâm đến vị trí của sách khải huyền trong toàn bộ kinh thánh, là nơi mà nhiều hình ảnh Thánh Kinh hòa lẫn với nhau, người đọc hy vọng sẽ tìm ra các giải thích rõ rệt hơn, theo văn mạch chương 12, nhắm đến cá nhân hoặc tập thể. Những giải thích này sẽ soi sáng vị thế của Mẹ Maria và của giáo hội trong chiến thắng chung cuộc của đấng Thiên sai.

Suy niệm Thánh Kinh

30. Chứng nhân Thánh Kinh nhắc nhở tín hữu muôn đời sẽ gọi Mẹ Maria "có phúc"; người phụ nữ Do Thái khiêm hạ, con gái Israel sống trong hy vọng công chính cho người nghèo túng, người trinh nữ Chúa chúc phúc và tuyển chọn làm Mẹ đồng trinh của Con Ngài qua sự bao phủ của Thánh Thần. Chúng ta chúc tụng Mẹ là "tôi tớ Ðức Chúa Trời." Chúa là Ðấng ban cho Mẹ ơn đồng thuận trong tiến trình làm trọn chương trình cứu chuộc của Chúa, trong tâm tình người Mẹ suy niệm mọi sự trong lòng, người tỵ nạn đi tìm nơi tạm dung trên miền đất lạ, người Mẹ bị đau đớn khi thấy con bị đánh đập, và người phụ nữ Chúa Giêsu uỷ thác trông coi các môn đệ. Chúng ta hiệp nhất với Mẹ và với các môn đệ khi họ cùng cầu nguyện xin ơn Chúa Thánh Thần xuống trên giáo hội, trên gia đình cánh chung vừa chào đời. Và chúng ta cũng có thể nhìn thoáng thấy trong Mẹ định mệnh sau cùng của dân Chúa chia sẻ chiến thắng với con Mẹ trên quyền lực thần dữ và sự chết.

B. Mẹ Maria trong truyền thống Kitô giáo

Chúa Giêsu và Mẹ Maria trong truyền thống chung cổ thời

31. Trong giáo hội thuở sơ khai, người ta nhắc đến những suy tưởng về Mẹ Maria khi giải thích và bảo toàn truyền thống tông đồ. Tông truyền này tập trung nơi Chúa Giêsu. Chứng tá thời giáo phụ nói về Mẹ Maria như "Ðấng cưu mang Thiên Chúa" (Theotokos) dựa theo suy niệm Thánh Kinh và nghi thức cử hành Kitô giáo. Các khai triển về Mẹ dần dần tăng theo thời gian qua các tranh cãi Kitô học sơ khai. Dựa trên các tranh cãi nghiêm trọng của năm thế kỷ đầu, và kết luận của nhiều Công đồng đại kết, suy tư về vai trò của Mẹ Maria trong tiến trình Chúa Kitô nhập thể đã hòa nhập trọn vẹn với một đức tin chính thống nơi Ðức Giêsu Kitô, Ðấng là Thiên Chúa thật và là người thật.

32. Ðể bảo vệ ý tưởng tin rằng Ðức Kitô có bản tính và thân xác con người thật, và cũng để chống lại thuyết "Ảo tưởng" (Docetism), giáo hội sơ khai đã nhấn mạnh đến sự kiện Chúa sinh ra từ cung lòng Mẹ Maria. Chúa không chỉ "xuất hiện giống như" người; Chúa không từ trời xuống thế với "thân xác trời", cũng không phải ngài chào đời bằng cách "chỉ đi qua" Mẹ Người. Thực tế, Maria sinh hạ con trai của mình bằng chính bản thân mình.

Với thánh Ignatio thành Antioch (+110) và Tertullian (+225), thì Chúa Giêsu là con người thật cách trọn vẹn vì Người "thực sự" sinh ra bởi Mẹ Maria. Lời tuyên xưng của kinh tin kính Nicene-Constantinople (381) viết "Người đã nhập thể bởi Chúa Thánh Thần và bởi đức trinh nữ Maria, và đã làm người." Ðịnh nghĩa của Công đồng Chalcedon (451) tái khẳng quyết kinh tin kính này, nhấn mạnh "Chúa Giêsu cùng bản tính với Ðức Chúa Cha theo thiên tính, và cùng bản tính với chúng ta theo nhân tính." Kinh tin kính theo thánh Athanasio còn tuyên xưng cách cụ thể hơn qua lời "Chúa là người, cùng bản tính với Mẹ mình." Cả hai tôn giáo Anh giáo và Công giáo Roma khẳng quyết như vậy.

33. Ðể bảo vệ thiên tính đích thực của Người, giáo hội sơ khai đã nhấn mạnh tiến trình thụ thai đồng trinh của Mẹ Maria khi cưu mang Chúa Giêsu. Theo các giáo phụ, sự thụ thai do Chúa Thánh Thần, đã minh chứng nguồn gốc và căn tính thần thiêng của Người, đấng sinh ra bởi Mẹ, là con đời đời của Thiên Chúa.

Các vị giáo phụ Ðông và Tây - như thánh Justinô (+150), Ireneus (+202), Anathasio (+373), và Ambrosio (+397) - khai triển lời dậy dỗ của tân ước bằng những hạn từ dùng trong Xuất hành chương 3 (Mẹ Maria là đại biểu tượng của một "Evà đồng trinh"), và trong Isaia (7: 14) (Mẹ làm trọn lời hứa của tiên tri và sinh hạ đấng "Thiên Chúa ở cùng chúng tôi"). Các vị đã dùng tiến trình thụ thai đồng trinh bảo vệ cho thiên tính Chúa cứu thế và danh dự của Chúa Giêsu. Như kinh tin kính các tông đồ tuyên xưng: Chúa Chúa Giêsu Kitô "thụ thai nhờ Chúa Thánh Thần, và sinh ra từ cung lòng Ðức Maria." Cả hai tôn giáo Anh giáo và Công giáo Roma cùng khẳng quyết như vậy.

34. Danh xưng Mẹ Maria Theotokos (Ðấng cưu mang Thiên Chúa) chính thức nhắc nhở việc bảo vệ giáo lý chính thống của ngôi vị Ðức Kitô hiệp nhất. Người ta đã dùng danh xưng này trong các giáo đoàn miền Alexandria, ít nhất là vào thời gian có bè rối Arius. Vì Chúa Giêsu Kitô "là Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật" như Công đồng Nicea (325) tuyên tín, các giáo đoàn này quyết định phải gọi Mẹ của Người, Chúa Giêsu, là Mẹ Thiên Chúa.

Tuy nhiên, các nhà thờ dưới ảnh hưởng của Antioch, đang khi lưu tâm đến sự đe dọa của chủ thuyết Apolinaris (14) về nhân tính trọn vẹn của Ðức Kitô, đã không nhận tước hiệu này ngay tức khắc. Cuộc tranh luận diễn ra giữa Cyril thành Alexandria (444) và Nestorius (455) thượng phụ giáo chủ thành Constanstinople, người được huấn luyện theo trường phái Antioch, cho thấy vấn đề cốt tuỷ về danh hiệu Mẹ Maria chính là sự hiệp nhất của ngôi con, Ðức Kitô.

Công đồng thành Ephesô (431) dùng từ ngữ Theotokos (người cưu mang Chúa; tiếng La tinh là Deipara) minh xác sự duy nhất của ngôi vị Ðức Kitô bằng cách nhận định rằng Mẹ Maria là Mẹ Thiên Chúa nhập thể (15). Căn bản đức tin vấn đề này diễn đạt cách chính xác hơn trong định nghĩa theo Công đồng Chalcedon: "Một và cùng chính người con... thiên tính được sinh ra từ Ðức Chúa Cha muôn đời; về sau, vì chúng ta và vì ơn cứu rỗi của chúng ta, nhân tính đã sinh ra làm người từ Mẹ Maria đồng trinh Theotokos." Dựa trên định nghĩa của Công đồng Ephêsô và Chalcedon, giáo hội Anh giáo và Công giáo Roma cùng nhau tuyên xưng rằng Mẹ Maria là Theotokos.

Các lễ nghi cử hành kính Mẹ Maria theo truyền thống cổ thời

35. Vào những thế kỷ đầu, hiệp thông trong Ðức Kitô, bao gồm cả sự hiện diện sống động của các thánh như là một phần không thể thiếu trong cảm nghiệm tinh thần của các cộng đoàn giáo hội (Heb. 12: 1, 22-24; Rv. 6: 9-11; 7; 8: 3-4). Từ "đám mây nhân chứng" Mẹ đấng cứu thế xuất hiện với một vị thế đặc biệt. Các chủ đề dựa trên Thánh Kinh và lòng sùng kính dành cho Mẹ Maria dần dần phát triển, biểu lộ sự hiểu biết sâu xa về vai trò của Mẹ trong mầu nhiệm cứu chuộc nhân loại. Các chủ đề này nhìn Mẹ như người đối tác của Evà và khuôn mẫu của giáo hội. Người Kitô hữu nồng nhiệt tôn vinh những chủ đề về Mẹ tại các buổi cầu nguyện chung hoặc riêng.

36. Nhiều nhà chú giải Thánh Kinh vui mừng khi tìm ra hình ảnh đượm mầu nữ tính từ Thánh Kinh khi suy niệm ý nghĩa của giáo hội và của Mẹ Maria. Các vị giáo phụ, ngay từ thời gian đầu như Justinô tử đạo (150) và Ireneus (202) khi suy tư các bản văn như Xuất hành 3 và Lu-ca 1: 26-38, đã khai triển phản đề Adong mới, Evà mới. Cũng như Evà liên hệ với Adong khi phạm tội, thì Mẹ Maria cũng liên kết với con Mẹ khi chiến thắng kẻ thù xưa (Xc. Sáng thế ký 3: 15, và giải thích vide supra số *4): "người trinh nữ" Evà không vâng phục dẫn đưa đến sự chết; trinh nữ Maria vâng phục dẫn đưa đến ơn cứu chuộc. Evà mới chia sẻ chiến thắng với Adong mới vượt trên tội và thần chết.

37. Các giáo phụ cũng trình bầy Mẹ Maria, Mẹ đồng trinh như khuôn mẫu thánh thiện của trinh nữ thánh hiến. Các ngài cũng dần dần trình bầy rằng Mẹ đã luôn "giữ mình đồng trinh."(16) Trong suy tư này, trinh trắng không chỉ hiểu như sự vẹn toàn thể lý, mà còn là sự cởi mở nội tâm, sự vâng phục và một niềm trung tín với Ðức Kitô. Những đặc điểm đó là khuôn mẫu cho đặc tính môn đệ Kitô và nẩy sinh hoa trái thiêng liêng.

38. Với sự hiểu biết giáo phụ đó, đồng trinh của Mẹ Maria liên hệ mật thiết với đời sống thánh thiện của Mẹ. Mặc dầu một vài vị chú giải thuở sơ khai nghĩ rằng Mẹ Maria không hoàn toàn khỏi tội (17), Augustinô (430) minh xác rằng thật khó để có thể kể Mẹ mang bất cứ một tội nào.

"Chúng ta phải không kể đến đức thánh trinh nữ Maria là đấng mà tôi muốn nói rằng, khi chúng ta bàn về tội, thì không thể áp dụng cho Mẹ, vì vinh quang Thiên Chúa. Từ Chúa, chúng ta biết ân sủng tràn đầy chiến thắng tội. Hồng ân Chúa, trong những trường hợp đặc biệt, khiến cho Mẹ là đấng đã vinh dự cưu mang Thiên Chúa, không có bất cứ một tội nào" (De Natura et Gratia 36, 42)

Các vị giáo phụ khác từ Ðông và Tây, dựa trên lời chào của sứ thần (Lu-ca 1: 38) ủng hộ quan điểm Mẹ Maria đầy ân sủng từ trong lòng thân mẫu, theo chương trình quan phòng trước của Thiên Chúa dành cho Mẹ, là Mẹ Ðấng cứu thế. Cho đến thế kỷ thứ 5, các giáo phụ ca tụng Mẹ là tạo vật mới: tinh tuyền, vô tội "thánh thiện nơi thân xác cũng như tâm hồn" (Theodotus of Ancyra, bài giảng 6, 11 trước năm 446). Ðến thế kỷ thứ VI, giáo hội Ðông phương dành tước hiệu panaghia ("Trọn thánh") cho Mẹ.

39. Sau những tranh luận Kitô học tại hai Công đồng Ephêso và Chalcedon, lòng sùng kính Mẹ Maria càng nở hoa. Khi thượng phụ thành Antioch từ chối tước hiệu Theotokos dành cho Mẹ, đại đế Leo I (457-474) truyền cho thượng phụ Constanstinople đưa tên hiệu này vào kinh nguyện thánh thể Ðông phương. Ðến thế kỷ thứ VI, tưởng nhớ Mẹ Maria là "đấng cưu mang Thiên Chúa" đã trở thành toàn cầu trong các kinh nguyện thánh thể dùng cho cả Ðông cũng như Tây phương (trừ giáo hội Assyria Ðông phương)

Các bản văn và hình ảnh cử hành đời sống thánh thiện của Mẹ Maria xuất hiện trên nhiều thi văn và ca nhạc phụng vụ, như Akathist, tụng ca, có lẽ xuất hiện sau Công đồng Chalcedon, và vẫn dùng hát trong các nhà thờ Ðông phương bây giờ. Truyền thống cầu nguyện với Mẹ Maria và chúc tụng Mẹ sau đó dần dần triển khai. Song song với sự triển khai này, từ thế kỷ thứ 4 tại Ðông phương, người ta cầu khẩn xin Mẹ phù trì.

40. Sau Công đồng Ephesô, nhiều giáo hội bắt đầu sùng kính Mẹ Maria. Giáo dân cử hành lễ trọng kính Mẹ vào những ngày đặc biệt tại nhà thờ. Từ lòng sùng mộ chung, và dần dần được giáo hội địa phương chấp nhận, các lễ kính Mẹ Maria hoài thai, sinh nhật Ðức Mẹ (8 tháng 9), dâng mình (21 tháng 11), về trời (15 tháng 8) trở nên phổ biến. Những lễ này phản ảnh sự tưởng nhớ các biến cố trong cuộc đời Chúa Cứu thế theo nghi thức phụng vụ. Những sự sùng mộ và lễ kính đã dựa trên nền tảng Thánh Kinh cũng như trên ngoại thư về cuộc đời khi Mẹ còn trẻ và khi Mẹ "về trời".

Lễ mừng Mẹ hoài thai bắt đầu tại phương Ðông vào cuối thế kỷ thứ 7, rồi phát triển tại giáo hội Tây phương qua miền nam Anh quốc vào đầu thế kỷ 11. Lễ này, song song với lễ Chúa nhật truyền tin, cũng như với lễ hoài thai của thánh Gioan tiền hô, dựa trên lòng sùng mộ chung từ thế kỷ thứ 2 theo truyền thống giảng dậy của thánh tông đồ Gia cô bê.

Lễ Ðức Mẹ về trời xuất hiện vào hậu bán thế kỷ thứ 6, nhưng trước đó, các truyền thuyết về cuối đời của Mẹ đã rộng rãi phổ biến. Tại Tây phương, lễ mang ảnh hưỏng nhất về chủ đề này tên là Transitus Mariae (Mẹ di chuyển). Tại Ðông phương, lễ có tên dormition (Mẹ thiếp đi) nghĩa là Mẹ chết nhưng cũng có nghĩa là Mẹ về trời. Tại Tây phương, người ta thường dùng từ ngữ linh hồn và xác lên trời, nhấn mạnh rằng Mẹ về trời, nhưng cũng có nghĩa rằng Mẹ đã chết.

Niềm tin Mẹ về trời dựa trên lời hứa phục sinh và trên sự xác tín Mẹ là đấng Theotokos và"trọn đời đồng trinh." Niềm tin đó, cùng với các sự xác tín Mẹ đã sinh ra Ðấng Sự Sống, cần liên kết với cuộc chiến thắng của Người Con trên cái chết, và liên kết với vinh quang của thân thể Chúa là giáo hội.

Các tiến triển trong giáo lý và lòng sùng mộ Mẹ Maria thời Trung cổ

41. Lòng sùng mộ và các lễ dành cho Mẹ Maria khiến cho một số đông vị giảng thuyết nhắc nhở nhiều đến Mẹ trong bài giảng. Qua bài giảng, nhà giảng thuyết đào sâu Thánh Kinh, tìm tòi các khuôn mẫu và lý do, soi sáng vị thế của đức trinh nữ trong nhiệm cuộc cứu độ. Thời trung cổ, người ta chú tâm đến nhân tính của Ðức Kitô qua việc lưu tâm nhân đức gương mẫu của Mẹ, thí dụ như Thánh Bernard nhiều lần nhắc nhở nhân đức của Mẹ trong bài giảng. Suy niệm cuộc đời của cả Chúa Kitô và Mẹ Maria ngày càng trở nên phổ thông và phát triển cao độ, dẫn đưa đến các sùng kính khác như kinh mân côi và nghệ thuật thánh. Tranh vẽ, điêu khắc và kiếng mầu vào thời hậu và Ðại trung cổ phản ảnh rộng rãi lòng sùng kính này.

42. Vào những thế kỷ trên, có nhiều chuyển biến thần học về Mẹ Maria. Các thần học gia thời Ðại trung cổ khai triển suy tư giáo phụ nhìn Mẹ như "khuôn mẫu" của giáo hội, và là Evà mới, khi liên kết với Chúa Kitô trong tiến trình cứu chuộc. Trọng tâm của những suy tư nơi người tín hữu vào thời điểm này chuyển từ một Maria, đại diện cho giáo hội trung tín, và một nhân loại được cứu rỗi, sang một Maria, người thông truyền ân sủng Ðức Kitô cho giáo dân.

Các thần học gia Tây phương khai mở một hệ thống đức tin về chính Ðức Kitô dựa trên quyền của Mẹ. Ða số các phần trong giáo lý này bàn luận sự thánh thiện và ơn được thánh hóa của Mẹ Maria. Các vấn nạn trên, không những chịu ảnh hưởng của nền thần học kinh điển về ân sủng và tội nguyên tổ, mà còn chịu ảnh hưởng từ các giả thuyết liên quan đến sự sinh sản và liên hệ giữa hồn với xác. Thí dụ, nếu Mẹ Maria được thánh hóa trong lòng của Mẹ Ngài (thánh Isave), thì Gioan tiền hô và Jeremia còn hoàn hảo hơn; các nhà thần học nghĩ rằng giây phút quan trọng của sự thánh hóa nơi Mẹ, cần được định đoạt theo sự hiểu biết đương thời vào lúc "linh hồn" của Mẹ hoài thai trong thân xác.

Những phát triển thần học của phương Tây về ân sủng và tội lỗi đặt ra vấn nạn khác: Làm cách nào Mẹ Maria không vướng tội nào, kể cả tội nguyên tổ, mà không ngăn trở vai trò Chúa Kitô là đấng cứu chuộc mọi người? Những suy tư chuyên môn khác dẫn đưa đến cuộc thảo luận căng thẳng, về cách nào Chúa Kitô cứu chuộc đã ban ân sủng trước, gìn giữ Mẹ Maria khỏi tội nguyên tổ? Hệ thống lý luận thần học do thánh Thomas Aquinô viết trong cuốn Tổng luận thần học, và Duns Scotus lý luận cách tế nhị trong nhiều cuộc tranh luận, đã bàn về vấn đề phải chăng Mẹ Maria vô nhiễm ngay từ lúc mới hoài thai.

43. Thời hậu trung cổ, thần học kinh điển mạnh mẽ phát triển và tách biệt khỏi trường phái suy niệm tâm linh. Các nhà thần học kinh điển, nhằm tạo nên vị thế của riêng mình, càng ngày càng ít tìm nguồn gốc nơi các chú giải Thánh Kinh, đã đưa ra suy luận riêng; trong khi đó, các nhà "danh xưng học" (nominalist) (19) lại tìm hiểu xem điều gì được thể hiện nhờ uy quyền và ý muốn tối thượng của Thiên Chúa. Với niềm tin tôn giáo bình dân, Mẹ Maria xuất hiện như vị trung gian giữa Chúa và con người, và như người có quyền làm phép lạ, một quyền xuất phát từ đấng thần linh. Ðương nhiên, niềm sùng kính bình dân này ảnh hưởng không ít trên ý kiến thần học của những người sinh ra và lớn lên trong thời đại đó, và trên những ai chú tâm nghiên cứu lòng sùng kính dành cho Mẹ Maria của thời trung cổ.

Từ thời Cải cách cho đến Ngày nay

44. Một phản ứng mạnh mẽ thời Cải cách vào đầu thế kỷ 16, là phản ứng chống lại các thực hành biểu lộ lòng sùng kính, coi Mẹ Maria như đấng trung gian song song với Chúa Kitô, hoặc trong vài trường hợp, thay thế cả cho Người. Các loại tôn kính quá đáng như vậy, đôi khi xuất hiện cùng với ý tưởng nhìn Chúa Kitô như vị thẩm phán khó tính hoặc vị cứu chuộc khó khăn, bị Erasmus và Thomas More chỉ trích nặng nề. Nhóm Cải cách mạnh mẽ bài bác các tôn kính trên. Cùng với các chương trình tái đón nhận nhận Thánh Kinh tận nguồn như căn bản nền tảng cho tiến trình mặc khải thánh, còn có sự kiện nhóm Cải cách (tức là Tin Lành) tái đón nhận nhận niềm tin, Chúa Kitô là đấng trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và con người. Ðiều này khiến cho người ta loại bỏ các quá trớn chung quanh việc sùng kính Mẹ Maria. Nhưng đồng thời, nó cũng dẫn đến tình trạng mất đi một vài giá trị tích cực khi tôn kính, và làm giảm giá trị vị thế của Mẹ trong đời sống giáo hội.

45. Trong hoàn cảnh đó, các người Cải cách Anh giáo vẫn tiếp tục nhận đức tin truyền thống từ thời giáo hội sơ khai liên quan đến Mẹ Maria. Quan niệm mang tính cách tích cực của h