

THỨ NĂM -
THỨ SÁU - THỨ BẢY TUẦN THÁNH
TIN MỪNG: Ga 13, 1 - 15
Trước lễ Vượt Qua, Ðức
Giê-su biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với
Chúa Cha. Người vẫn Yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế
gian, và Người yêu thương họ đến cùng. Ma quỷ đã gieo vào lòng
Giu-đa, con ông Si-mon Ít-ca-ri-ốt, ý định nộp Ðức Giê-su. Ðức Giê-su
biết rằng: Chúa Cha đã giao phó mọi sự trong tay Người, Người bởi
Thiên Chúa mà đến, và sắp trở về cùng Thiên Chúa, nên trong một
bữa ăn Người đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, và lấy khăn
mà thắt lưng. Rồi Ðức Giê-su đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân
cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau.
Vậy,
Người đến chỗ ông Si-mon Phê-rô, ông liền thưa với Người: "Thưa
Thầy ! Thầy mà lại rửa chân cho con sao ?" Ðức Giê-su trả lời:
"Việc Thầy làm, bây giờ anh chưa hiểu, nhưng sau này anh sẽ
hiểu". Ông Phê-rô lại thưa: "Thầy mà rửa chân cho con,
không đời nào con chịu đâu !" Ðức Giê-su đáp: "Nếu Thầy
không rửa cho anh, anh sẽ chẳng được chung phần với Thầy." Ông
Si-mon Phê-rô liền thưa: "Vậy, thưa Thầy, xin cứ rửa, không
những chân, mà cả tay và đầu con nữa". Ðức Giê-su bảo ông: "Ai
đã tắm rồi, thì không cần phải rửa nữa; toàn thân người ấy đã
sạch. Về phần anh em, anh em đã sạch, nhưng không phải tất cả đâu
!" Thật vậy, Người biết ai sẽ nộp Người, nên mới nói: "Không
phải tất cả anh em đều sạch".
Khi rửa
chân cho các môn đệ xong, Ðức Giê-su mặc áo vào, về chỗ và nói: "Anh
em có hiểu việc Thầy mới làm cho anh em không ? Anh em gọi Thầy là
Thầy, là Chúa, điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là
Chúa. Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em,
thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em,
để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em".
SUY NIỆM 1 THỨ NĂM THÁNH:
Chiều hôm nay đưa nhân loại về biến cố có
một không hai trong lịch sử cứu độ: thánh lễ tiệc ly. Nhân loại cách
đây 2003 năm đã chứng kiến một sự việc hết sức ấn tượng, một buổi
dặn dò hết sức thân mật giữa Chúa Giê-su và các môn đệ của Ngài.
Trong buổi tiệc ly Chúa Giê-su đã thiết lập Bí Tích Thánh Thể, đã để
lại chức Linh Mục Thừa Tác và đã ban cho mọi người giới luật yêu
thương. Trong bữa tiệc ly hôm nay, tôi muốn mời mọi người đi vào
những cảm nghĩ của người Kơho để nghiệm ra tình thương Thiên Chúa đã
trao ban cho mọi người không phân biệt mầu da tiếng nói và dân tộc.
CHÚA GIÊ-SU LẬP BÍ TÍCH THÁNH
THỂ
Dân
Do-thái ăn lễ vượt qua. Ðây là ngày lễ trọng nhất của người
Do-thái, lễ kỷ niệm lại ngày Chúa cứu dân Do-thái ra khỏi ách nô
lệ người Ai-cập. Trong nghi lễ này, dân Do-thái theo tập tục, truyền
thống của cha ông chỉ dùng bánh không men, ăn với thịt chiên nướng
và rau diếp đắng và uống rượu nho. Người dân tộc Kơho cũng có
truyền thống ăn lễ được mùa, trong nghi lễ được mùa cúng Giàng (
Yang ), người Kơho ăn thịt trâu hay thịt bò nướng, và món ăn được
tăng thêm khẩu vị bằng rau nse ( một loại rau béo, có chứa mùi vị
giống như thịt, giàu chất đạm ), uống rượu cần.
Tập
tục uống rượu cần không thể thay thế. Lễ vượt qua của người Do-thái
được qui định từng chi tiết tỉ mỉ, dân chúng tất cả đều phải tuân
giữ cách rất tỉ mỉ, chi tiết. Chúa Giê-su trong dịp này cách đây hơn
hai ngàn năm đã dùng Lễ Vượt Qua với các môn đệ theo đúng các nghi
thức và tập tục vừa nêu trên. Tuy nhiên trong lễ vượt qua này, đang
nửa chừng bữa ăn, Chúa Giê-su trỗi dậy, lấy khăn thắt lưng và lấy
chậu đổ nước vào, rồi rửa chân cho các môn đệ, lấy thắt lưng lau
chân cho các môn đệ ( Ga 13, 4 - 15 ).
Ở đây, tôi còn nhớ, già làng của người dân tộc
là người có uy tín trong làng, là người điều khiển và xử các vụ
việc của dân làng trong các nghi lễ lớn như cúng thần, ăn mừng mùa
lúa, thường chia sẻ với các dân làng miếng cơm nếp, miếng thịt và
uống chung cần rượu với các thần dân của làng mình hay các bạn bè
tới dự tiệc. Chúa đã rửa chân cho các môn đệ để dậy cho các ông
rằng Bí Tích Thánh Thể là Bí Tích Tình Yêu. Vì thương yêu nhân loại: "Không
có tình yêu nào cao vời cho bằng tình yêu của người hiến mạng sống
mình" ( Ga 15, 13 ), Chúa Giê-su đã lập Bí Tích Thánh Thể để tất
cả những ai ăn một bánh, uống chung một chén phải có lòng yêu
thương, hợp nhất vì đã trở nên một thân thể với Chúa Ki-tô và trở
nên chi thể của nhau ( 1 Cr 10, 16 - 17 ).
Chúa
Giê-su đã lập Bí Tích Thánh Thể khi Ngài sắp đi chịu chết, vào tối
thứ năm trong lễ tiệc ly. Tối hôm trước ngày Lễ Vượt Qua ( Ga 13, 1
). Ðây là bữa ăn cuối cùng của Chúa Giê-su với các môn đệ ( Lc 22,
5 - 16 ). Người dân tộc Kơho khi đã lãnh nhận Bí Tích Thánh Tẩy làm
con cái Chúa, con cái Giáo Hội, tới tuổi được rước lễ, họ rất kính
mến Bí Tích Thánh Thể và cung kính Mình Thánh Chúa Ki-tô.
CHÚA GIÊ-SU LẬP CHỨC LINH MỤC THỪA TÁC
Trong
lễ vượt qua, Chúa Giê-su đã lập Bí Tích Thánh Thể, Ngài muốn có
những bàn tay thừa kế công trình cứu độ của Ngài. Khi lập Bí Tích
Thánh Thể, Chúa Giê-su đã phán cùng các môn đệ: "Anh em hãy làm
sự này mà nhớ đến Thầy" ( Lc 22, 19 ). Do những lời của Chúa,
Chúa đã phong chức Linh Mục cho các môn đệ, và ban cho các Ngài
quyền cử hành Bí Tích Thánh Thể, và dâng thánh lễ. Cho nên, trong
Hội Thánh chỉ những ai được phong chức Linh Mục mới có quyền cử hành
Bí Tích Thánh Thể.
Ngày
nay, Ðức Giám Mục khi phong chức Linh Mục cho tiến chức nào, khi Ðức
Giám Mục xức dầu thánh trên bàn tay của vị tân chức, Ngài nói: "Xin
Chúa Giê-su Ki-tô, Ðấng mà Chúa Cha đã xức dầu bằng sức mạnh và
Chúa Thánh Thần, gìn giữ con để thánh hóa Giáo Dân và hiến dâng lễ
tế lên Thiên Chúa". Ðồng thời, khi Ðức Giám Mục trao dĩa có bánh
thánh và chén rượu vào tay mỗi vị tân chức, Ngài nói: "Con hãy nhận
lấy lễ vật của dân thánh mà dâng lên Thiên Chúa". Khi đọc
những lời đó, Ðức Giám Mục ban quyền cử hành Bí Tích Thánh Thể cho
tân chức, để dâng lễ tế lên Thiên Chúa cho toàn dân.
Do Bí Tích Truyền Chức Thánh, các Linh Mục có
quyền cử hành Bí Tích Thánh Thể và dâng lễ thay mặt dân Chúa. Trong
buôn làng của người dân tộc, xưa kia các già làng là những người
thay mặt dân cúng tế xin các Giàng ơn này ơn kia cho dân làng. Người
dân tộc Kơho vẫn hãnh diện vì ông tổ ( pàng yău ) của họ là
Xơrơđen, có mẹ là mặt trời, xuất thân từ thần mặt trời, nên Xơrơđen
rất gần gũi với các thần khác và là vị thần lớn hơn các thần
khác. Mọi người dân làng phải nhớ tới ông tổ của họ. Ngày nay khi
theo Chúa, họ yêu mến các Linh Mục ( Bàp ).
CHÚA BAN CHO NHÂN LOẠI GIỚI RĂN
MỚI
Trong
nghi lễ chiều thứ năm thánh, Chúa Giê-su cũng dạy các môn đệ và
cả nhân loại giới răn mới: "Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã
yêu thương anh em". Chúa Giê-su đã nhấn mạnh đến lề luật bác ái:
"Mến Chúa yêu người" ( Ga 13, 34; 13, 35 ). Luật bác ái của
Chúa Giê-su không thu hẹp như người Do-thái quan niệm, nhưng phải mở
rộng ra để đón nhận mọi người, kể cả những kẻ thù ghét ta ( Mt 5,
43 - 48 ). Chính Chúa Giê-su đã làm gương cho nhân loại về giới luật
yêu thương ( Lc 23, 34 ).
Yêu người sẽ gặp Chúa và yêu Chúa sẽ gặp
người. Ðây là giới luật hết sức mới và có tính cách mạng. Người
dân tộc Kơho có tập tục rất hay là gặp ai họ cũng thích bắt tay và
nói chúc sức khỏe tốt ( dơs niăm să ). Tôi nghĩ đây là nét rất đặc
biệt của người dân tộc vì họ coi mọi người như anh em ( oh mi ), dù
rằng chỉ với cái bắt tay, cái chào rất dân dã nhưng nó nói lên tình
huynh đệ và sự sống gần gũi thiên nhiên, rừng rú của người dân
tộc.
Trong
chiều thứ năm này, mọi người chúng ta như đang đứng trước một Con
người, đã sống cách ta hơn hai ngàn năm, nhưng Ngài: Chúa Giê-su đang
làm lại những cử chỉ, những công việc hết sức sống động: lập Bí
Tích Thánh Thể, trao ban chức Linh Mục và trao ban luật mới: Luật Yêu
Thương. Chúng ta hãy chiêm ngắm, hãy sống những biến cố này với tất
cả Ðức Tin của mình.
Lạy
Chúa Giê-su, xin cho chúng con biết đi vào những biến cố thánh với
tất cả Ðức Tin, Ðức Cậy và Ðức Mến của chúng con.
Lm.
Giu-se NGUYỄN HƯNG LỠI, DCCT, Giáo Phận Ðà Lạt
SUY NIỆM 2 THỨ NĂM THÁNH:
CUỘC VƯỠT QUA MỚI
Cùng với gia đình, họ hàng và cả dân
tộc mình, Ðức Giê-su đã nhiều lần mừng Lễ Vượt Qua.
I. TƯỞNG NIỆM
CUỘC VƯỠT QUA NGÀY XƯA:
Cũng
như nhiều người đồng hương của mình, vào mỗi dịp lễ ấy, Ngài lại
được nghe bậc cha anh ôn nhắc hoặc chính mình nhớ đến tình thương đặc
biệt của Gia-vê trong biến cố Vuợt qua ngày xưa. Cũng như họ, Ngài
sâu xa xúc động trước sự dấn thân tận tình của Gia-vê, trước sự can
thiệp bằng quyền năng phi thường và biết bao dấu lạ điềm thiêng của
Người. Tất cả mọi thế hệ trong dân tộc Ngài đều say mê, không biết
chán, khi nghe kể lại các việc lạ lùng Thiên Chúa thực hiện và các
tai ương Gia-vê giáng xuống dân Ai-cập. Quá khứ như sống lại. Sự
chào đời của dân tộc họ như vừa mới xảy ra, thậm chí như đang xảy ra.
Họ sống lại niềm tin tưởng mãnh liệt đối với Gia-vê. Họ cảm nghiệm
lại trong xương trong thịt mình niềm tự hào của một dân tộc được
Gia-vê yêu riêng. Họ xác tín mình là dân tộc duy nhất có diễm phúc
lớn lao và không một dân tộc nào khác được gần Gia-vê như họ.
II. HƯỚNG ÐẾN
CUỘC VƯỠT QUA MỚI
Thế
nhưng trong bữa tiệc Vượt Qua cuối cùng bên Nhóm Tông Ðồ nghĩa thiết,
mà chiều nay chúng ta đang tưởng niệm, Ðức Giê-su còn mang nặng những
tâm tình sâu xa hơn mọi lần trước, sâu xa hơn ngàn trùng. Ngài ý
thức dây là thời điểm Ðức Chúa Cha thực hiện cuộc Vượt Qua Mới và
chính Ngài sẽ là người chính yếu hoàn thành kế hoạch này của Thiên
Chúa.
Ngài sắp thực hiện trước
mắt các Tông Ðồ và thực hiện vì các ông, cho các ông những hành vi
mà các ông chưa hiểu hết được: đó là Ngài "trỗi dậy, bỏ áo
xống đi, lấy khăn thắt lưng mình, đổ nước vào chậu và rửa chân cho
các ông" - đó là Ngài đã "cầm lấy bánh và nói: "Này là Mình
Ta", đã "cầm lấy chén rượu và nói: "Chén này là Giao Ước mới
trong Máu Ta"
Phải về sau này các Tông
Ðồ và Hội Thánh mới ngày càng hiểu thêm những gì đã xảy ra trong
bữa Tiệc Ly ấy, và càng hiểu càng kinh ngạc đến rụng rời, càng
hiểu càng thấm thía và xúc động.
Bởi vì
trong cuộc Vượt Qua xưa kia, như bài đọc một vừa kể lại, tổ tiên họ
được lệnh giết một con chiên con, mỗi nhà một con để ăn mà đủ sức
lên đường, và để lấy máu nó bôi lên khung cửa nhà mình để được
thiên thần vượt qua tha chết cho con đầu lòng. Còn lần này chính Ngài
sẽ là con chiên Vượt Qua. chính Ngài vừa là lương thực cho nhân loại,
vừa là dấu chỉ và phương cứu sống cho nhân loại.
Lý do
thứ hai: bởi vì trong cuộc Vượt Qua xưa kia, Gia-vê đã dấn thân vì Dân
và gắn bó với Dân một cách thật đáng cảm kích, nhưng lần này, bằng
Mình và Máu Ngài mà con người ăn và uống, chính Con Thiên Chúa còn
keo sơn với con người đến mức nên một và không phân lìa với con
người nữa. vì Ngài hoà tan trong từng giọt máu của ta, nên một với
từng thớ thịt trong ta.
Lý do
thứ ba: trong cuộc Vượt Qua xưa kia, có thể nói Gia-vê đã quay cuồng,
đã vất vả vì cuộc giải phóng Dân Chúa đã tuyển chọn, đã quên mình
vì họ, đã quảng đại một cách lạ lùng, nhưng lần này khi cúi xuống
rửa chân cho các Tông Ðồ, chính Con Một Thiên Chúa còn chứng tỏ
Ngài bỏ mình đến mức nào, Ngài khiêm nhường hầu hạ con người đến
tận mức nào nữa.
Ðó
thật là những điều chúng ta diễn tả cách mấy thì cũng chỉ là mô
phỏng lại một cách quá mờ nhạt ( như chuyện cha sở làm nghi thức
rửa chân cho một số người trong Giáo Xứ... ), chúng ta có tìm hiểu
đến đâu thì cũng không tài nào hiểu hết được ý nghĩa.
III. VƯỠT QUA
MỚI, MỘT BIẾN CỐ VĨ ÐẠI:
Chúng
ta chỉ có thể nói rằng: tuy khung cảnh bữa Tiệc Ly của Chúa âm thầm
đơn sơ như thế, nhưng với bữa tiệc ấy, nhiều điều vô cùng trọng đại
đã xảy đến cho nhân loại, bởi vì:
- Ðó
chính là lúc Thiên Chúa đã thực hiện cuộc Vượt Qua mới, cần thiết
và hữu ích cho đời làm người của ta ngàn vạn lần hơn cuộc Vượt Qua
cũ.
- Ðó
chính là lúc Thiên Chúa thể hiện tình thương tột cùng của Người, tình
thương hết mức không sao thêm hơn được nữa đối với con người.
- Ðó
chính là lúc thân phận con người được nâng cao, được quý trọng quá
mọi ngờ tưởng, khiến mỗi khi tưởng niệm lại những gì Chúa đà làm,
chúng ta thật không còn có quyền nói đến một kiếp người ô trọc, một
cuộc sống đen tối bế tắc, bởi vì đời người đã là một đời được
Thiên Chúa yêu thương, và yêu thương đến mức như thế: đến mức khiêm
hạ, huỷ mình ra không để hầu hạ con người, đến mức trở thành lương
thực và nên một với con người.
Chúng
ta hãy mở trí mở lòng chiêm ngắm các hành vi mà Phụng Vụ chiều nay
cử hành để mà thán phục, để mà thật lòng ngợi khen và cảm tạ
Chúa chúng ta.
Lm. TRẦN THẾ PHIỆT, DCCT, Giáo Phận Ðà Lạt
SUY NIỆM 3 THỨ NĂM THÁNH:
BÀI HỌC PHỤC
VỤ
1. PHỤC VỤ TRONG TỰ HẠ
Trình
thuật về việc rửa chân chỉ được ghi lại duy nhất trong Tin Mừng
Gio-an. Hình ảnh Ðức Giê-su cúi xuống rửa chân cho các môn đệ trước
hết là một mặc khải rõ ràng về Thiên Chúa tình yêu. Nghiêng mình
xuống là cách Cựu Ước dùng để diễn tả lòng nhân hậu thương xót
của Thiên Chúa. Giờ đây, Thiên Chúa không những nghiêng mình mà còn
quỳ gối, cúi xuống tận chân con người, để rồi phải ngẩng đầu lên
trả lời khi Phê-rô phản đối. Thử hỏi còn có sự hạ mình nào hơn
thế ? Ðấng toàn năng sáng tạo lại quỳ gối để ngước mắt nhìn lên
thụ tạo của mình.
Thiên
Chúa đã xóa mình đi để bước xuống, đến gần và bày tỏ lòng thương
xót cho con người như thế đấy. Cử chỉ đó mãi là một tấm gương để cho
tất cả các môn đệ của Ðức Giê-su không ngừng học hỏi mà đối xử
với nhau: "Nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em,
thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau" ( Ga 13, 14 ). Một tiêu
chuẩn để người môn đệ Chúa Giê-su đến với người khác và phục vụ
họ: "Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em" (
Ga 15, 12 ).
2. PHỤC VỤ BẰNG TỰ HIẾN
Câu
chuyện rửa chân không đơn thuần là một tấm gương về bài học khiêm
tốn phục vụ nhưng còn mang ý nghĩa biểu tượng, nói lên tất cả sứ
mạng của Ðức Giê-su đồng thời loan báo về sự chết và phục sinh của
Người nữa.
Hình
ảnh Ðức Giê-su "cởi áo ngoài ra" rồi sau đó lại "mặc áo vào" khiến
ta liên tưởng đến lời Người nói trước kia: "Chính tôi tự ý hy sinh
mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống
ấy" (Ga 10, 18). Như thế, câu chuyện rửa chân là cách diễn tả
tượng trưng cho cái chết tự nguyện của Ðức Giê-su và cuộc phục sinh
của Người.
Ở
giữa hai hành động "cởi ra" và "mặc vào" trong trình thuật rửa chân
là một cử chỉ tự hạ thẳm sâu. Còn ở giữa hai hành động "hy sinh"
và "lấy lại" lại là sự tự hiến tuyệt vời: "Không có tình thương nào cao cả hơn tình
thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình" ( Ga
15, 13 ). Cái
chết của Ðức Giê-su ở trên thập giá chính là tuyệt đỉnh của một
tình yêu phục vụ: "Con Người
đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và
hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người" (
Mc 10, 45 ).
2. PHỤC VỤ CHO
ÐẾN CÙNG
Tin
mừng Gio-an không nói đến việc Ðức Giê-su lập Bí Tích Thánh Thể,
nhưng khung cảnh của bữa tiệc ly được bổ túc bằng đoạn thư thứ nhất
gửi tín hữu Cô-rin-tô giúp chúng ta hiểu rằng tiếp theo hành động
có tính biểu tượng nối kết sự tự hạ với tự hiến là việc Chúa ban
chính thịt máu của Người làm lương thực dưỡng nuôi nhân loại cùng
với lệnh truyền: "Hãy làm việc
này mà tưởng nhớ đến Thầy" ( 1 Cr 11, 25 )
Việc Ðức Giê-su thiết lập Bí Tích Thánh Thể và
chức Linh mục trong bữa Tiệc Ly chứng tỏ tình yêu của Người dành cho
nhân loại. Yêu đến hiến mạng sống, yêu đến ban thân mình. Qua hai Bí
Tích đó, Người muốn thực hiện lời hứa: "Thầy ở cùng anh em mọi
ngày cho đến tận thế" ( Mt 28, 20 ). Người yêu thương và yêu cho
đến cùng. Dù không còn hiện diện cách hữu hình trên dương gian này,
nhưng Người luôn có đó để trợ lực, để đồng hành với nhân loại qua
phép Thánh Thể, qua con người linh mục với sứ mạng mục tử.
Như thế, qua Ðức Giê-su Ki-tô, mỗi người chúng ta
đã dược Thiên Chúa yêu thương cách đặc biệt. Chúng ta có bổn phận
làm cho tình yêu đó triển nở và được nhân rộng trong môi trường của
mình bằng việc xóa mình đi: xóa đi những thành kiến, ích kỷ, toan tính
vụ lợi... Ðồng thời, mỗi người cũng phải biết mở ra với những
người chung quanh. Có như thế, tình yêu và sự sống mà chúng ta đón
nhận được từ nơi Chúa Cha qua Ðức Giê-su mới thực sự sinh hoa kết
quả dồi dào.
Trong
ngày kỷ niệm Chúa Giê-su lập Bí Tích Thánh Thể và Bí Tích Truyền
chức hôm nay, ta bắt gặp một hình ảnh Chúa Ki-tô Linh Mục hoàn toàn
trái ngược với hội chứng quyền bính đã được người ta nói đến: một
Thiên Chúa hạ mình để phục vụ, một mục tử tự hiến cho đến cùng.
Quyền bính được trao cho Giáo Hội, chức vụ tư tế thừa tác được trao
cho các linh mục ngày nay không ngoài mục đích để cho tình yêu cứu độ
của Ðức Ki-tô còn tiếp tục hiện diện giữa thế giới này. Chúng ta
cùng cầu xin cho các linh mục của Chúa ngày càng trở nên đồng hình
đồng dạng với Chúa Ki-tô, vị Linh Mục đời đời.
Lm. KIỀU CÔNG TÙNG, Giáo Phận Sài-gòn
TIN MỪNG THỨ SÁU THÁNH: Ga 18,
1 - 19, 42
SUY NIỆM 1 THỨ SÁU THÁNH:
CUỘC VƯỠT QUA CỦA ÐỨC GIÊ-SU
Chắc
chắn người Do-thái càng theo Ðức Giê-su trong những ngày cuối đời
của Ngài thì lại càng thất vọng. Và khi ở sân phủ đường Phi-la-tô,
có thể nói họ đã thực sự vỡ mộng. Bao nhiêu đợi chờ và hy vọng
của họ đều như tan thành mây khói. Thay vì được reo hò tung hô một vị
vua oai hùng, thì họ đang phải chứng kiến một kẻ thất thế, một khuôn
mặt thảm thương, không còn dáng vẻ con người, đúng như những gì các
ngôn sứ từng mô tả về Người Tôi Tớ Thống Khổ ( như ta vừa nghe
trong bài đọc I ).
Thay vì
được nhìn thấy Ngài và chính mình trong cảnh chiến thắng, trong vinh
quang, trong quyền lực, thì kìa họ chẳng thấy Ngài thực hiện một cuộc
Vượt Qua. một cuộc giải phóng nào cả, mà lại thấy Ngài từ bỏ vinh
hoa, thậm chí đời Ngài sắp kết thúc nơi đích điểm là cái chết cầm
chắc trong tay.
Họ
đâu có ngờ là đúng lúc họ vỡ mộng như thế, một biến cố lớn lao
đang xảy ra, đâu có ngờ là chưa khi nào và chưa một thế hệ nào có
phúc như họ hôm đó, bởi vì chính hôm đó Thiên Chúa thực hiện cuộc
Vượt Qua mới đích thực. So với cuộc Vượt Qua xưa kia, cuộc Vượt Qua
mới có ba sự khác biệt lớn:
1. Sự khác biệt trước hết là trong lần này, Thiên
Chúa ở cùng hơn khi xưa: hồi ở Ai-cập, chắc chắn ai trong số những người
Do-thái cũng đều quý mến và nể phục ông Mô-sê, nhưng đồng thời ai
cũng biết rằng đàng sau ông và bên trên ông, đang có Ðức Chúa vô
hình, Ðấng lớn lao hơn và đang điều khiển mọi sự. Qua khuôn mặt, lời
nói, hành động của ông Mô-sê, họ thấy Thiên Chúa thật gần họ và
thấy như mình rờ đụng được sự hiện diện của Người.
Thế nhưng ở sân phủ
đường Phi-la-tô, qua Ðức Giê-su. Thiên Chúa của họ còn gần hơn nữa.
vì Người đang ngự sờ sờ ra đó ngay trước mặt họ. Khi Phi-la-tô chỉ
vào Ðức Giê-su và nói: "Này người đó !" cả ông ta lẫn chính
họ đâu có biết nghĩa của câu đó là: này là chính Thiên Chúa bằng
xương bằng thịt, Thiên Chúa hiện ra rành rành, Thiên Chúa tỏ mình tỏ
tường, Thiên Chúa đã đến nơi đây, đang ngồi đây, tại sân phủ đuờng
này, thành một con người bằng xương bằng thịt. Thiên Chúa gần hơn,
thật hơn, rõ hơn xưa kia biết bao. Họ đâu có ngờ được.
2. Sự
khác biệt thứ hai là hôm nay, cuộc Vượt Qua đích thực đang xảy ra,
không còn chỉ là biểu tượng, không còn chỉ là kỷ niệm. Tuy đối với
họ, cuộc Vượt Qua khỏi Ai-cập ngày xưa là biến cố vô cùng lớn lao,
đáng mọi thế hệ mừng nhớ, nhưng thật ra nó chỉ là hình ảnh báo
trước về cuộc Vượt Qua lần này mà thôi. Nó chưa phải là cuộc Vượt
Qua đích thực. Nó có mang lại cho Ít-ra-en sự tự do và sự tồn tại đã
nhiều thế kỷ, nhưng chắc chắn nó không có tính cách đời đời. Ðồng
thời người Do-thái mừng Lễ Vượt Qua một cách long trọng và họ coi
trọng lễ sát tế chiên Vượt Qua đang diễn ra ở Ðền Thờ Giê-ru-sa-lem.
nhưng cuộc lễ ấy và việc tế hiến ấy cũng chỉ là kỷ niệm về một
biến cố đã qua, đâu có phải là thực tại, như khi Ðức Giê-su chết
trên thập giá, khi Ngài là Chiên Vượt Qua chính hiệu ( vì Ngài giống
con chiên Vượt Qua, không bị đánh dập cái xương nào, mà chỉ bị đâm
thủng cạnh sườn ) khi Ngài là Thượng Tế đích thực.
Các
cử hành ở Ðền Thờ chỉ là nghi lễ và kỷ niệm, còn lúc Ðức Giê-su
tắt thở trên thập giá, thực tại đã xảy đến, đó chính là thời điểm
Con Thiên Chúa và cả nhân loại vượt từ cõi chết sang cõi sống
3. Sự
khác biệt thứ ba, vô cùng đáng buồn, đó là trong cuộc Vượt Qua
khi xưa, toàn dân phấn chấn quây quần chung quanh Mô-sê, vồn vã đón
chờ từng mệnh lệnh một của Ðức Chúa và sẵn sàng lên đường, không
một phút chậm trễ, còn trong hiện tại, họ không nhận ra thời điểm
mình sắp được đời đời giải phóng và đang thẳng thừng từ khước
Mô-sê Mới của mình. Ðối với Ðức Giê-su vô tội cũng là chính Ðức
Chúa đang sờ sờ trước mặt, họ điên cuồng la lên "Ðóng đinh nó
vào thập giá".
Ðúng
là không có ngày nào bẽ bàng cho Thiên Chúa cho bằng hôm thứ sáu
ấy. Sau hàng ngàn năm yêu thương và chuẩn bị con người cho Ngày vĩ
đại, Người đã gặt hái sự phản trắc của đoàn con nghĩa thiết. Lời
lên án và cái chết thập giá họ dành cho Ðức Giê-su tố giác sự
chọn lựa sai lầm của họ đúng vào dịp may ngàn năm một thuở. Nhưng
không phải chỉ người Do-thái mới phản ứng như thế, mà rất có thể
chính chúng ta cũng đang phản ứng như thế, qua Ðức Tin sa sút, qua nếp
sống tầm thường của mình. Thập giá Chúa luôn luôn còn là câu hỏi,
là sự cật vấn đối với chúng ta.
Lát
nữa đây, chúng ta sẽ lên hôn kính Thánh Giá. Mỗi người hãy tự nghĩ
về cái hôn mà mình sắp dành cho Chúa. Mình muốn cái hôn ấy của mình
mang ý nghĩa một cái hôn phản bội, giả hình, hay một cái hôn yêu
mến và gắn bó ?
Lm. TRẦN THẾ PHIỆT, DCCT, Ðà Lạt
SUY NIỆM 2 THỨ
SÁU THÁNH:
CUỘC KHỔ NẠN CỦA CHÚA GIÊ-SU
Hôm
nay toàn dân Chúa tưởng niệm cuộc Thương Khó của Chúa Giê-su. Phúc
Âm nhất lãm và Tin Mừng của thánh Gio-an đều tường thuật về cuộc
khổ nạn của Chúa Giê-su. Mỗi tác giả đều có những nét đặc biệt
cho Tin Mừng của mình. Tuy bốn Phúc Âm đều tường thuật lại như nhau
về cuộc thương khó của Chúa Giê-su, nhưng đặc biệt thánh Gio-an cũng
đã để lộ những nét cá biệt của Người trong việc tường thuật này.
Trong cuộc tưởng niệm cuộc khổ hình của Chúa Giê-su, ta dừng lại ở
Mầu Nhiệm Thập Giá mà Chúa Giê-su ngang qua cái chết: "Khi nào Ta
bị treo lên khỏi đất Ta sẽ kéo mọi người đến cùng Ta" ( Ga 12, 32
) hoặc "Không có tình yêu nào cao vời cho bằng tình yêu của người
hiến mạng sống mình" ( Ga 15, 13 ).
HẠT LÚA MÌ RƠI XUỐNG ÐẤT...
Thập giá của Ðức Ki-tô vẫn tàng ẩn ngay
sau bản án mà người Do-thái gán Chúa Chúa Giê-su. Ðối diện với
thập giá, thế gian được chia làm hai hoặc tin nhận hoặc khước từ. "Kẻ
nghe lời Ta và tin vào Ðấng đã sai Ta, thì có sự sống đời đời, và
khỏi phải đến tòa phán xét nhưng đã ngang qua sự chết mà vào sự
sống" ( Ga 5, 24 ) hoặc "Kẻ tin vào Ngài, thì không bị án xử,
kẻ không tin thì đã bị án xử rồi, bởi vì không tin vào Danh Con Một
của Thiên Chúa" ( Ga 3, 18 ).
Thật
thế, Thiên Chúa vì quá yêu thế gian dù rằng nhân loại tội lỗi, thế
gian phản bội, Ngài không loại bỏ thế gian, nhưng đã sai Con của Ngài
là Chúa Giê-su đến gian trần. Chúa Giê-su đã thi hành chương trình
cứu rỗi trần thế theo ý Ðức Chúa Cha. Chúa Giê-su đã thực hiện
luật yêu thương của Tin Mừng: "...Hạt lúa mì gieo xuống đất, thúi
đi và chết đi, thì sinh nhiều hoa trái" ( Ga 12, 24 ).
Chúa
Giê-su Ki-tô đã sống cái cùng tận của định luật tình yêu là chấp
nhận cái chết nhục hình trên thập giá vì yêu nhân loại, dù Ngài
hoàn toàn vô tội ( Mt 27, 4 ). Chúa Giê-su Ki-tô đã chấp nhận như
một tội nhân nặng nhất để bị nguyền rủa ( Ga 3, 13 ) và phải kết án
tử hình bằng việc bị đóng đinh, hình phạt ghê gớm và nhục nhã nhất
lúc đó ( Ga 19, 16 ). Ngài làm thế để ứng nghiệm lời Ngài nói: "Và
Ta, một khi Ta được giương cao khỏi đất, Ta sẽ kéo mọi người lại với
Ta" ( Ga 12, 32 ).
Ðây
là mầu nhiệm sâu thẳm của tình thương giữa Thiên Chúa và nhân loại:
"Quả vì Thiên Chúa đã yêu thế gian như thế đó, đến nỗi đã thí ban
Người Con Một..." ( Ga 3, 16 ) và "Ðức Giê-su biết rằng đã đến
giờ Ngài qua khỏi thế gian này để đến cùng cha… thì Ngài đã yêu mến
họ đến cùng" ( Ga 13, 1 ). Chúa Giê-su đã hoàn tất công trình cứu
độ nhân loại trên thập giá. Chính trên thập giá, Ðức Giê-su Ki-tô
kéo mọi người đến cùng Ngài để hình thành nên một cộng đoàn mới
của dân Thiên Chúa. Hình ảnh Ðức Giê-su chịu chết, treo trên thập
giá làm tôi liên tưởng tới ông tổ của người dân tộc Kơho là
Xơrơđen,: "Ông Xơrơđen cũng đóng khố có kết tua xinh đẹp, cũng mặc
áo thêu hoa đỏ tươi, cũng vác xà gạc sắc ( wiăs nhơr ) như nước trên
vai, mang gùi nặng sau lưng, cũng đánh chiêng, uống rượu cần..." (
K' Bon và ông Mang Xăng kể ) và Ông tổ người Kơho đã hy sinh
chết hiên ngang cho dòng tộc Kơho của mình, cho sự tồn vong của con
cháu và như thế niềm tin của người Kơho cũng thấp thoáng, cũng ẩn
tàng một cái gì đó rất bình dị, nhưng cũng rất linh thiêng.
NIỀM TIN CỦA NHÂN LOẠI NƠI THẬP GIÁ CHÚA GIÊ-SU
Mầu
nhiệm thập giá là mầu nhiệm tình thương. Trên thập giá, Chúa Giê-su
đã qui tụ muôn dân muôn nước và cũng chỉ nơi thập giá ơn cứu độ
của Chúa mới tuôn tràn nơi mọi người. Ông Caipha thượng tế đã nói
một lời phán quyết về Chúa Giê-su như một lời ngôn sứ: "Ðiều
ấy, ông đã nói ra, không phải tự mình, nhưng vì là Thượng Tế năm
ấy, ông đã nói ngôn sứ là Ðức Giê-su sắp phải chết thay cho cả
dân tộc; và không chỉ thay cho dân tộc mà thôi nhưng còn để thâu
họp con cái Thiên Chúa tản mác về lại làm một" ( Ga 11, 51 - 52
).
Chúa Giê-su đã thực hiện ý nhiệm mầu của
Thiên Chúa Cha là hy sinh mạng sống, gánh tội trần gian, chết vì yêu
thương gian trần. Ðây là mầu nhiệm của lòng tin và chỉ có đức tin
sâu thẳm, con người mới nhận ra điều đó. Nhân loại ở muôn thời vẫn
hiểu rằng bao lâu còn Ki-tô giáo bấy lâu thánh giá còn vươn cao.
Thập giá là biểu hiệu của người Ki-tô hữu và đó là dấu hiệu của
tình thương, của sự hiệp nhất, của sự cảm thông, chia sẻ và tha thứ.
Tôi còn nhớ trong một lớp Giáo Lý cho người tân
tòng Kơho, tôi nói rằng: "Chúa Giê-su là Con Chúa Cha, đã yêu
thương con người, giống như anh chị em thương con cái của anh chị em, khi
thấy con cái mình bị đau ốm, bị thú rừng tấn công nguy hiểm, anh chị em
đem hết tình thương để cứu con mình dù rằng tính mạng mình có thể hiểm
nguy, anh chị em vẫn cứu con. Chúa Giê-su cũng vậy vì yêu chúng ta, yêu
mọi người, Chúa đã chấp nhận lời của Cha Ngài là Chúa Cha, vâng ý
Chúa Cha, chấp nhận cái chết mặc dù Ngài không có tội gì. Chúa
Giê-su bị bắt, bị kết án và bị đóng đinh trên thập giá như anh chị em
vẫn thấy trong nhà thờ, trên ngực người mang Thánh Giá và tôi rút
trong túi áo ra một cây Thánh Giá Truyền Giáo, rồi giơ cho lớp Giáo
Lý tân tòng coi. Tất cả đều trầm trồ khen Chúa dễ thương và vỗ tay tán thành vang dội, trước sự xúc động
cao độ của tôi..."
Lạy
Chúa Giê-su, xin cho mọi người chúng con suy niệm kỹ càng lời mời
gọi kính thờ Thánh Giá: "Ðây là cây thánh giá, nơi đã treo
Ðấng Cứu Ðộ trần gian".
Lm. Giu-se NGUYỄN HƯNG LỠI, DCCT, Giáo Phận Ðà Lạt
SUY NIỆM 3 THỨ SÁU THÁNH:
SỰ PHẢN BỘI CỦA A-ÐAM
Hôm
nay Thứ Sáu Tuần Thánh, Giáo Hội dành nhiều giờ long trọng tưởng
niệm mầu nhiệm đau khổ và tử nạn của Chúa Ki-tô. Nhất là cả cộng
đoàn vừa lắng nghe cả một bài ca Thương Khó dài. Và một lý do khác
nữa, có lẽ ngày hôm nay mọi miệng lưỡi phải thinh lặng thật lâu và
thật sâu để sống lại thời khắc thánh thiện và cao điểm nhất của
cả Năm Phụng Vụ.
Vì
thế thay vì chia sẻ Lời Chúa như thường lệ, chúng ta hãy cùng nhau
quay về với nguồn gốc mà từ đó phát sinh tội lỗi để chúng ta thật
lòng sám hối chính những tội lỗi của mình. Ðó chính là những hình
ảnh của sách Sáng Thế: "Ðức
Chúa là Thiên Chúa nói: Này con người đã trở thành như một kẻ trong
chúng ta, biết điều thiện điều ác. Bây giờ đừng để nó giơ tay hái
cả trái cây trường sinh mà ăn và được sống mãi" ( St 4, 22
).
Thật
đáng tiếc cho A-đam, giữa một bên là lời yêu thương nhắn nhủ của
Thiên Chúa: "Hết mọi trái cây trong vườn, ngươi cứ ăn. Nhưng trái cây cho
biết điều thiện, điều ác, thì ngươi không được ăn. Vì ngày nào ngươi
ăn, chắc chắn ngươi sẽ phải chết" ( St 2, 16 - 17 ). Còn bên
kia là lời xảo quyệt mưu mô của tên cám dỗ: "Các ngươi cứ ăn đi, Thiên
Chúa cấm vì Người biết ngày nào các ngươi ăn, các ngươi sẽ nên
những vị thần biết thiện biết ác. Các ngươi cứ ăn, không chết chóc
gì đâu" ( St 3, 4 -
5 ).
Vậy mà A-đam đã đánh đổi chính lời của Thiên
Chúa để nghe lời xảo quyệt của kẻ cám dỗ. Cùng với hành động tội
lỗi, con người đã đạt mục đích: trở thành một bậc hiểu biết điều
lành sự dữ ! Nhưng cái giá phải trả cho sự hiểu biết này quá đắt:
Con người mất tất cả và mất cả chính mình. "được sống mãi" đâu
không thấy, chỉ có nỗi nhục nhã, đau khổ, chết chóc là bám lấy con
người. Rốt cuộc "biết lành biết dữ" cũng không phải là cái được,
nhưng là cái mất. Biết làm chi để rồi nhận ra mình trần trụi. Sự
kiêu ngạo đã làm cho con người vong thân nghiệt ngã.
Kinh
nghiệm tội lỗi dù đã làm con người khiếp sợ nhưng nó vẫn không thể
tự mình đứng vững. Sau mỗi lần phạm tội là mỗi lần đổ vỡ, là ray
rứt, là mất mát, nhưng nó vẫn cứ lao vào. Vong thân đẩy con người đi
từ nghiệt ngã này đến nghiệt ngã khác.
Giữa lúc bi thương ấy, Lời Hứa Cứu Ðộ: "Ta sẽ
đặt hận thù giữa mi và người nữ, giữa dòng dõi mi và dòng dõi bà.
Dòng dõi bà sẽ đạp đầu mi" ( St 7, 14 ) được thực hiện. Ngày xưa
khi A-đam bị đuổi khỏi Ê-đen, cửa trời khép lại, hạnh phúc khép lại.
Ngày nay, chính Chúa Ki-tô đến ôm trọn nỗi khổ đau của con người,
chia sớt đến cùng những khắc khoải của con người về lẽ sống. Nhờ
Ngài, cửa trời lại mở ra, hạnh phúc mở ra, Ơn Cứu Ðộ mở ra.
Kiêu
ngạo của A-đam là độc tố giết chết tương quan giữa con người với
Thiên Chúa, giữa con người với nhau và với chính mình. Bản chất kiêu
ngạo ấy hình như vẫn tồn tại nơi mỗi người. Bởi thế chúng ta hãy
khiêm tốn cúi đầu, đấm ngực mình để thống hối. Sau mỗi lần gợi ý
sám hối, chúng ta dừng lại trong thinh lặng, xin Chúa tha thứ cho ta.
Phải
chăng vì kiêu ngạo, chúng ta chưa tha thứ cho nhau ?
Phải
chăng vì kiêu ngạo, chúng ta không nói được một lời xin lỗi nhau ?
Phải
chăng vì kiêu ngạo, chúng ta không đón nhận lời góp ý của anh chị em
với mình ?
Phải
chăng vì kiêu ngạo, chúng ta không vui khi thấy người khác hơn mình,
hay ngược lại, vui vì nghĩ rằng mình hơn hẳn người khác ?
Và
phải chăng, vì kiêu ngạo, chúng ta luôn phàn nàn, chê trách, bàn
tán, phẩm bình về những thiếu sót của anh chị em mình ?
Chúng
ta xin Chúa tha thứ và hoán cải để mỗi ngày một trở nên hiền lành,
khiêm nhường như Chúa.
Lm. JB NGUYỄN MINH HÙNG, Giáo Phận Phú Cường
CHỨNG TÁ:
ÐƯỜNG THÁNH GIÁ VÒNG QUANH THẾ GIỚI
Kỷ lục Guiness năm 1996 ghi lại một chuyện đánh động mọi
người: Anh Arthur Blessit người Hoa Kỳ, 55 tuổi đã ròng rã suốt 26 năm
vác trên vai một cây Thập Giá bằng gỗ, dọc 3m60 và ngang 1m80, nặng
18 ký, đi bộ vòng quanh thế giới. Khi khởi hành tại Los Angeles vào
năm 1969, anh đã ngỏ lời xin nhận cuộc hành trình của mình như là một
cống hiến mang tính tôn giáo cho tất cả những ai đang khao khát sống
yêu thương theo gương Ðức Giê-su.
Tính đến 1996, anh
đã trải qua 26 mùa Giáng Sinh rong ruổi trên đường xa, cứ mỗi 4.800
cây số, anh lại phải thay một đôi giày. Dọc đường, tại London, thủ
đô nước Anh, anh đã kết hôn với chị Denise. Ðiều trớ trêu là không
ít Nhà Thờ trên lộ trình của anh đã không muốn đón tiếp vì cho rằng
anh là một người điên điên khùng khùng, hoặc có ý đồ khích động gì
đấy ! Tuy nhiên, anh đã có vinh dự được đồng hành với một số vị thủ
lãnh tôn giáo như Ðức Gio-an Phao-lô 2, Billy Graham... Anh đã từng bị các
loài như: voi, cá sấu, khỉ, rắn và cả con người tấn công. Anh thuật
lại:
"Tôi đã đi qua các sa mạc, rừng rậm. Tôi đã băng ngang
những nơi đang có chiến tranh hoặc bạo động. Tôi đã từng bị cảnh sát
các nước bắt giam 21 lần vì những tội vớ vẩn như đi tha thẩn, cản
trở giao thông, hoặc bị tình nghi là có mưu đồ xúi bẩy bạo động...
Tôi đã từng một lần phải đối mặt với
một đội hành quyết năm 1978 tại nước Nicaragua. Hôm ấy, tôi đang cùng một người bạn đi dọc
con lộ mang tên Pan America, còn người thông dịch của tôi thì theo sau
trên một chiếc xe tải quá giang. Bỗng có 7 người đàn ông mang súng
chặn đường và lôi tôi ra cột vào một gốc cây. Họ bảo họ sắp xử
bắn tôi. Tôi bảo họ rằng tôi không thể chết nếu không có một
cuốn Kinh Thánh trên tay. Họ đồng ý mở trói để tôi đón chiếc xe
tải sắp đến và lấy cuốn Kinh Thánh. Thế rồi, tôi đã lấy được trong
ba-lô cất trên xe đem tặng cho mỗi người một cuốn Kinh Thánh nhỏ. Họ
có vẻ bối rối, và rồi họ đã đồng loạt hạ súng, tha cho tôi được
ra đi bình an..."
Tính đến năm 1996, anh Arthur Blesitt
đã đi được 50.140 cây số, qua 227 nước khác nhau. Anh cho biết: còn
phải đến 50 nước nằm trên 7 lục địa lớn nhỏ...
Theo tạp chí KIẾN THỨC NGÀY NAY 1996.
TÀI LIỆU:
SUY NIỆM ÐƯỜNG THÁNH GIÁ
I. DẪN NHẬP:
Kính
thưa cộng đoàn ! Thiên Chúa yêu thương con người. Và thập giá là
bằng chứng của tình yêu cao cả ấy. Trong
lời đầu của Sứ Ðiệp Ngày Quốc Tế Giới Trẻ năm 2000, Ðức Thánh Cha
Gio-an Phao-lô 2 đã viết: "Cách đây 15 năm ( 1983 ), Cha đã giao cho
các con một cây Thập giá lớn bằng gỗ, mời gọi các con vác nó đi
khăp thế giới như dấu chỉ lòng Chúa Giê-su yêu thương loài người và
để loan báo rằng chỉ nhờ Ðức Ki-tô tử nạn và Phục sinh chúng ta mới
được cứu rỗi". Từ đó, Thập Giá Chúa Giê-su được nhiều cánh tay
và quả tim quảng đại của các bạn trẻ khắp năm châu vác lấy, làm
nên một cuộc lữ hành dài không ngơi nghỉ qua các đại lục.
Thật
vậy, Thập Giá mà chúng ta suy tôn chiều nay như muốn minh chứng một
chân lý: Vì yêu thương chúng ta, Chúa Ki-tô đã không ngần ngại một
hành vi nào, cho dù phải đổ máu. Qua câu khẳng định của thư Do-thái: "Không
có đổ máu sẽ không có ơn cứu độ" chúng ta mới hiểu được thế
nào là cái giá của hy sinh, của đau khổ của tình yêu và cho tình
yêu.
Dừng
lại ở các chặng thứ 1, 4, 5, 9, 12, tiêu biểu cho cả Hành Trình Thập
Giá, chúng ta được mời gọi tham dự vào những đau khổ của Chúa, nhận
ra bộ mặt tội lỗi của trần gian; đồng thời, khám phá muôn hồng ân
mà chúng ta đã, đang và sẽ được lãnh nhận qua mỗi chặng đường Thương
Khó đó.
Lạy
Chúa Giê-su ! Chúng con muốn hướng lòng theo Chúa tiến về Can-vê.
Chúng con muốn tưởng nghĩ đến nỗi thống khổ và cái chết của Chúa
để hiểu rõ tình Chúa đã yêu thương chúng con thế nào. Ðây cũng là
dịp giúp chúng con biết tránh xa tội lỗi, gạt bỏ tất cả những gì
làm chúng con xa Chúa.
Lạy
Mẹ Ma-ri-a ! Mẹ đã đồng hành với Chúa trên con đường khổ nạn này.
Xin Mẹ nhắc nhở chúng con những điều mà Mẹ đã thấy, đã nghe và
những đau khổ mà chính Mẹ đã chịu, để việc suy niệm cuộc Thương Khó
của Chúa giờ đây mang lại nhiều ích lợi cho chúng con (
Chọn một bài hát ngắn thích hợp ).