GOSPELNET

 

 

 

 

 

Text Box: NĂM THỨ BA - SỐ 110
TUẦN THÁNH 17.18.19/04/2003
 

 

 

 

 


THỨ NĂM - THỨ SÁU - THỨ BẢY TUẦN THÁNH

 

TIN MỪNG: Ga 13, 1 - 15

 

Trước lễ Vượt Qua, Ðức Giê-su biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Người vẫn Yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng. Ma quỷ đã gieo vào lòng Giu-đa, con ông Si-mon Ít-ca-ri-ốt, ý định nộp Ðức Giê-su. Ðức Giê-su biết rằng: Chúa Cha đã giao phó mọi sự trong tay Người, Người bởi Thiên Chúa mà đến, và sắp trở về cùng Thiên Chúa, nên trong một bữa ăn Người đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, và lấy khăn mà thắt lưng. Rồi Ðức Giê-su đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau.

Vậy, Người đến chỗ ông Si-mon Phê-rô, ông liền thưa với Người: "Thưa Thầy ! Thầy mà lại rửa chân cho con sao ?" Ðức Giê-su trả lời: "Việc Thầy làm, bây giờ anh chưa hiểu, nhưng sau này anh sẽ hiểu". Ông Phê-rô lại thưa: "Thầy mà rửa chân cho con, không đời nào con chịu đâu !" Ðức Giê-su đáp: "Nếu Thầy không rửa cho anh, anh sẽ chẳng được chung phần với Thầy." Ông Si-mon Phê-rô liền thưa: "Vậy, thưa Thầy, xin cứ rửa, không những chân, mà cả tay và đầu con nữa". Ðức Giê-su bảo ông: "Ai đã tắm rồi, thì không cần phải rửa nữa; toàn thân người ấy đã sạch. Về phần anh em, anh em đã sạch, nhưng không phải tất cả đâu !" Thật vậy, Người biết ai sẽ nộp Người, nên mới nói: "Không phải tất cả anh em đều sạch".

Khi rửa chân cho các môn đệ xong, Ðức Giê-su mặc áo vào, về chỗ và nói: "Anh em có hiểu việc Thầy mới làm cho anh em không ? Anh em gọi Thầy là Thầy, là Chúa, điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em".

SUY NIỆM 1 THỨ NĂM THÁNH:

TÌNH YÊU

Chiều hôm nay đưa nhân loại về biến cố có một không hai trong lịch sử cứu độ: thánh lễ tiệc ly. Nhân loại cách đây 2003 năm đã chứng kiến một sự việc hết sức ấn tượng, một buổi dặn dò hết sức thân mật giữa Chúa Giê-su và các môn đệ của Ngài. Trong buổi tiệc ly Chúa Giê-su đã thiết lập Bí Tích Thánh Thể, đã để lại chức Linh Mục Thừa Tác và đã ban cho mọi người giới luật yêu thương. Trong bữa tiệc ly hôm nay, tôi muốn mời mọi người đi vào những cảm nghĩ của người Kơho để nghiệm ra tình thương Thiên Chúa đã trao ban cho mọi người không phân biệt mầu da tiếng nói và dân tộc.

CHÚA GIÊ-SU LẬP BÍ TÍCH THÁNH THỂ

Dân Do-thái ăn lễ vượt qua. Ðây là ngày lễ trọng nhất của người Do-thái, lễ kỷ niệm lại ngày Chúa cứu dân Do-thái ra khỏi ách nô lệ người Ai-cập. Trong nghi lễ này, dân Do-thái theo tập tục, truyền thống của cha ông chỉ dùng bánh không men, ăn với thịt chiên nướng và rau diếp đắng và uống rượu nho. Người dân tộc Kơho cũng có truyền thống ăn lễ được mùa, trong nghi lễ được mùa cúng Giàng ( Yang ), người Kơho ăn thịt trâu hay thịt bò nướng, và món ăn được tăng thêm khẩu vị bằng rau nse ( một loại rau béo, có chứa mùi vị giống như thịt, giàu chất đạm ), uống rượu cần.

Tập tục uống rượu cần không thể thay thế. Lễ vượt qua của người Do-thái được qui định từng chi tiết tỉ mỉ, dân chúng tất cả đều phải tuân giữ cách rất tỉ mỉ, chi tiết. Chúa Giê-su trong dịp này cách đây hơn hai ngàn năm đã dùng Lễ Vượt Qua với các môn đệ theo đúng các nghi thức và tập tục vừa nêu trên. Tuy nhiên trong lễ vượt qua này, đang nửa chừng bữa ăn, Chúa Giê-su trỗi dậy, lấy khăn thắt lưng và lấy chậu đổ nước vào, rồi rửa chân cho các môn đệ, lấy thắt lưng lau chân cho các môn đệ ( Ga 13, 4 - 15 ).

Ở đây, tôi còn nhớ, già làng của người dân tộc là người có uy tín trong làng, là người điều khiển và xử các vụ việc của dân làng trong các nghi lễ lớn như cúng thần, ăn mừng mùa lúa, thường chia sẻ với các dân làng miếng cơm nếp, miếng thịt và uống chung cần rượu với các thần dân của làng mình hay các bạn bè tới dự tiệc. Chúa đã rửa chân cho các môn đệ để dậy cho các ông rằng Bí Tích Thánh Thể là Bí Tích Tình Yêu. Vì thương yêu nhân loại: "Không có tình yêu nào cao vời cho bằng tình yêu của người hiến mạng sống mình" ( Ga 15, 13 ), Chúa Giê-su đã lập Bí Tích Thánh Thể để tất cả những ai ăn một bánh, uống chung một chén phải có lòng yêu thương, hợp nhất vì đã trở nên một thân thể với Chúa Ki-tô và trở nên chi thể của nhau ( 1 Cr 10, 16 - 17 ).

Chúa Giê-su đã lập Bí Tích Thánh Thể khi Ngài sắp đi chịu chết, vào tối thứ năm trong lễ tiệc ly. Tối hôm trước ngày Lễ Vượt Qua ( Ga 13, 1 ). Ðây là bữa ăn cuối cùng của Chúa Giê-su với các môn đệ ( Lc 22, 5 - 16 ). Người dân tộc Kơho khi đã lãnh nhận Bí Tích Thánh Tẩy làm con cái Chúa, con cái Giáo Hội, tới tuổi được rước lễ, họ rất kính mến Bí Tích Thánh Thể và cung kính Mình Thánh Chúa Ki-tô.

CHÚA GIÊ-SU LẬP CHỨC LINH MỤC THỪA TÁC

Trong lễ vượt qua, Chúa Giê-su đã lập Bí Tích Thánh Thể, Ngài muốn có những bàn tay thừa kế công trình cứu độ của Ngài. Khi lập Bí Tích Thánh Thể, Chúa Giê-su đã phán cùng các môn đệ: "Anh em hãy làm sự này mà nhớ đến Thầy" ( Lc 22, 19 ). Do những lời của Chúa, Chúa đã phong chức Linh Mục cho các môn đệ, và ban cho các Ngài quyền cử hành Bí Tích Thánh Thể, và dâng thánh lễ. Cho nên, trong Hội Thánh chỉ những ai được phong chức Linh Mục mới có quyền cử hành Bí Tích Thánh Thể.

Ngày nay, Ðức Giám Mục khi phong chức Linh Mục cho tiến chức nào, khi Ðức Giám Mục xức dầu thánh trên bàn tay của vị tân chức, Ngài nói: "Xin Chúa Giê-su Ki-tô, Ðấng mà Chúa Cha đã xức dầu bằng sức mạnh và Chúa Thánh Thần, gìn giữ con để thánh hóa Giáo Dân và hiến dâng lễ tế lên Thiên Chúa". Ðồng thời, khi Ðức Giám Mục trao dĩa có bánh thánh và chén rượu vào tay mỗi vị tân chức, Ngài nói: "Con hãy nhận lấy lễ vật của dân thánh mà dâng lên Thiên Chúa". Khi đọc những lời đó, Ðức Giám Mục ban quyền cử hành Bí Tích Thánh Thể cho tân chức, để dâng lễ tế lên Thiên Chúa cho toàn dân.

Do Bí Tích Truyền Chức Thánh, các Linh Mục có quyền cử hành Bí Tích Thánh Thể và dâng lễ thay mặt dân Chúa. Trong buôn làng của người dân tộc, xưa kia các già làng là những người thay mặt dân cúng tế xin các Giàng ơn này ơn kia cho dân làng. Người dân tộc Kơho vẫn hãnh diện vì ông tổ ( pàng yău ) của họ là Xơrơđen, có mẹ là mặt trời, xuất thân từ thần mặt trời, nên Xơrơđen rất gần gũi với các thần khác và là vị thần lớn hơn các thần khác. Mọi người dân làng phải nhớ tới ông tổ của họ. Ngày nay khi theo Chúa, họ yêu mến các Linh Mục ( Bàp ).

CHÚA BAN CHO NHÂN LOẠI GIỚI RĂN MỚI

Trong nghi lễ chiều thứ năm thánh, Chúa Giê-su cũng dạy các môn đệ và cả nhân loại giới răn mới: "Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em". Chúa Giê-su đã nhấn mạnh đến lề luật bác ái: "Mến Chúa yêu người" ( Ga 13, 34; 13, 35 ). Luật bác ái của Chúa Giê-su không thu hẹp như người Do-thái quan niệm, nhưng phải mở rộng ra để đón nhận mọi người, kể cả những kẻ thù ghét ta ( Mt 5, 43 - 48 ). Chính Chúa Giê-su đã làm gương cho nhân loại về giới luật yêu thương ( Lc 23, 34 ).

Yêu người sẽ gặp Chúa và yêu Chúa sẽ gặp người. Ðây là giới luật hết sức mới và có tính cách mạng. Người dân tộc Kơho có tập tục rất hay là gặp ai họ cũng thích bắt tay và nói chúc sức khỏe tốt ( dơs niăm să ). Tôi nghĩ đây là nét rất đặc biệt của người dân tộc vì họ coi mọi người như anh em ( oh mi ), dù rằng chỉ với cái bắt tay, cái chào rất dân dã nhưng nó nói lên tình huynh đệ và sự sống gần gũi thiên nhiên, rừng rú của người dân tộc.

Trong chiều thứ năm này, mọi người chúng ta như đang đứng trước một Con người, đã sống cách ta hơn hai ngàn năm, nhưng Ngài: Chúa Giê-su đang làm lại những cử chỉ, những công việc hết sức sống động: lập Bí Tích Thánh Thể, trao ban chức Linh Mục và trao ban luật mới: Luật Yêu Thương. Chúng ta hãy chiêm ngắm, hãy sống những biến cố này với tất cả Ðức Tin của mình.

Lạy Chúa Giê-su, xin cho chúng con biết đi vào những biến cố thánh với tất cả Ðức Tin, Ðức Cậy và Ðức Mến của chúng con.

 Lm. Giu-se NGUYỄN HƯNG LỠI, DCCT, Giáo Phận Ðà Lạt

SUY NIỆM 2 THỨ NĂM THÁNH:

CUỘC VƯỠT QUA MỚI

 Cùng với gia đình, họ hàng và cả dân tộc mình, Ðức Giê-su đã nhiều lần mừng Lễ Vượt Qua.

I. TƯỞNG NIỆM CUỘC VƯỠT QUA NGÀY XƯA:

Cũng như nhiều người đồng hương của mình, vào mỗi dịp lễ ấy, Ngài lại được nghe bậc cha anh ôn nhắc hoặc chính mình nhớ đến tình thương đặc biệt của Gia-vê trong biến cố Vuợt qua ngày xưa. Cũng như họ, Ngài sâu xa xúc động trước sự dấn thân tận tình của Gia-vê, trước sự can thiệp bằng quyền năng phi thường và biết bao dấu lạ điềm thiêng của Người. Tất cả mọi thế hệ trong dân tộc Ngài đều say mê, không biết chán, khi nghe kể lại các việc lạ lùng Thiên Chúa thực hiện và các tai ương Gia-vê giáng xuống dân Ai-cập. Quá khứ như sống lại. Sự chào đời của dân tộc họ như vừa mới xảy ra, thậm chí như đang xảy ra. Họ sống lại niềm tin tưởng mãnh liệt đối với Gia-vê. Họ cảm nghiệm lại trong xương trong thịt mình niềm tự hào của một dân tộc được Gia-vê yêu riêng. Họ xác tín mình là dân tộc duy nhất có diễm phúc lớn lao và không một dân tộc nào khác được gần Gia-vê như họ.

II. HƯỚNG ÐẾN CUỘC VƯỠT QUA MỚI

Thế nhưng trong bữa tiệc Vượt Qua cuối cùng bên Nhóm Tông Ðồ nghĩa thiết, mà chiều nay chúng ta đang tưởng niệm, Ðức Giê-su còn mang nặng những tâm tình sâu xa hơn mọi lần trước, sâu xa hơn ngàn trùng. Ngài ý thức dây là thời điểm Ðức Chúa Cha thực hiện cuộc Vượt Qua Mới và chính Ngài sẽ là người chính yếu hoàn thành kế hoạch này của Thiên Chúa.

                Ngài sắp thực hiện trước mắt các Tông Ðồ và thực hiện vì các ông, cho các ông những hành vi mà các ông chưa hiểu hết được: đó là Ngài "trỗi dậy, bỏ áo xống đi, lấy khăn thắt lưng mình, đổ nước vào chậu và rửa chân cho các ông" - đó là Ngài đã "cầm lấy bánh và nói: "Này là Mình Ta", đã "cầm lấy chén rượu và nói: "Chén này là Giao Ước mới trong Máu Ta"

                Phải về sau này các Tông Ðồ và Hội Thánh mới ngày càng hiểu thêm những gì đã xảy ra trong bữa Tiệc Ly ấy, và càng hiểu càng kinh ngạc đến rụng rời, càng hiểu càng thấm thía và xúc động.

Bởi vì trong cuộc Vượt Qua xưa kia, như bài đọc một vừa kể lại, tổ tiên họ được lệnh giết một con chiên con, mỗi nhà một con để ăn mà đủ sức lên đường, và để lấy máu nó bôi lên khung cửa nhà mình để được thiên thần vượt qua tha chết cho con đầu lòng. Còn lần này chính Ngài sẽ là con chiên Vượt Qua. chính Ngài vừa là lương thực cho nhân loại, vừa là dấu chỉ và phương cứu sống cho nhân loại.

Lý do thứ hai: bởi vì trong cuộc Vượt Qua xưa kia, Gia-vê đã dấn thân vì Dân và gắn bó với Dân một cách thật đáng cảm kích, nhưng lần này, bằng Mình và Máu Ngài mà con người ăn và uống, chính Con Thiên Chúa còn keo sơn với con người đến mức nên một và không phân lìa với con người nữa. vì Ngài hoà tan trong từng giọt máu của ta, nên một với từng thớ thịt trong ta.

Lý do thứ ba: trong cuộc Vượt Qua xưa kia, có thể nói Gia-vê đã quay cuồng, đã vất vả vì cuộc giải phóng Dân Chúa đã tuyển chọn, đã quên mình vì họ, đã quảng đại một cách lạ lùng, nhưng lần này khi cúi xuống rửa chân cho các Tông Ðồ, chính Con Một Thiên Chúa còn chứng tỏ Ngài bỏ mình đến mức nào, Ngài khiêm nhường hầu hạ con người đến tận mức nào nữa.

Ðó thật là những điều chúng ta diễn tả cách mấy thì cũng chỉ là mô phỏng lại một cách quá mờ nhạt ( như chuyện cha sở làm nghi thức rửa chân cho một số người trong Giáo Xứ... ), chúng ta có tìm hiểu đến đâu thì cũng không tài nào hiểu hết được ý nghĩa.

III. VƯỠT QUA MỚI, MỘT BIẾN CỐ VĨ ÐẠI:

Chúng ta chỉ có thể nói rằng: tuy khung cảnh bữa Tiệc Ly của Chúa âm thầm đơn sơ như thế, nhưng với bữa tiệc ấy, nhiều điều vô cùng trọng đại đã xảy đến cho nhân loại, bởi vì:

- Ðó chính là lúc Thiên Chúa đã thực hiện cuộc Vượt Qua mới, cần thiết và hữu ích cho đời làm người của ta ngàn vạn lần hơn cuộc Vượt Qua cũ.

- Ðó chính là lúc Thiên Chúa thể hiện tình thương tột cùng của Người, tình thương hết mức không sao thêm hơn được nữa đối với con người.

- Ðó chính là lúc thân phận con người được nâng cao, được quý trọng quá mọi ngờ tưởng, khiến mỗi khi tưởng niệm lại những gì Chúa đà làm, chúng ta thật không còn có quyền nói đến một kiếp người ô trọc, một cuộc sống đen tối bế tắc, bởi vì đời người đã là một đời được Thiên Chúa yêu thương, và yêu thương đến mức như thế: đến mức khiêm hạ, huỷ mình ra không để hầu hạ con người, đến mức trở thành lương thực và nên một với con người.

Chúng ta hãy mở trí mở lòng chiêm ngắm các hành vi mà Phụng Vụ chiều nay cử hành để mà thán phục, để mà thật lòng ngợi khen và cảm tạ Chúa chúng ta.

Lm. TRẦN THẾ PHIỆT, DCCT, Giáo Phận Ðà Lạt

SUY NIỆM 3 THỨ NĂM THÁNH:

BÀI HỌC PHỤC VỤ

1. PHỤC VỤ TRONG TỰ HẠ

Trình thuật về việc rửa chân chỉ được ghi lại duy nhất trong Tin Mừng Gio-an. Hình ảnh Ðức Giê-su cúi xuống rửa chân cho các môn đệ trước hết là một mặc khải rõ ràng về Thiên Chúa tình yêu. Nghiêng mình xuống là cách Cựu Ước dùng để diễn tả lòng nhân hậu thương xót của Thiên Chúa. Giờ đây, Thiên Chúa không những nghiêng mình mà còn quỳ gối, cúi xuống tận chân con người, để rồi phải ngẩng đầu lên trả lời khi Phê-rô phản đối. Thử hỏi còn có sự hạ mình nào hơn thế ? Ðấng toàn năng sáng tạo lại quỳ gối để ngước mắt nhìn lên thụ tạo của mình.

Thiên Chúa đã xóa mình đi để bước xuống, đến gần và bày tỏ lòng thương xót cho con người như thế đấy. Cử chỉ đó mãi là một tấm gương để cho tất cả các môn đệ của Ðức Giê-su không ngừng học hỏi mà đối xử với nhau: "Nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau" ( Ga 13, 14 ). Một tiêu chuẩn để người môn đệ Chúa Giê-su đến với người khác và phục vụ họ: "Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em" ( Ga 15, 12 ).

2. PHỤC VỤ BẰNG TỰ HIẾN

Câu chuyện rửa chân không đơn thuần là một tấm gương về bài học khiêm tốn phục vụ nhưng còn mang ý nghĩa biểu tượng, nói lên tất cả sứ mạng của Ðức Giê-su đồng thời loan báo về sự chết và phục sinh của Người nữa.

Hình ảnh Ðức Giê-su "cởi áo ngoài ra" rồi sau đó lại "mặc áo vào" khiến ta liên tưởng đến lời Người nói trước kia: "Chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy" (Ga 10, 18). Như thế, câu chuyện rửa chân là cách diễn tả tượng trưng cho cái chết tự nguyện của Ðức Giê-su và cuộc phục sinh của Người.

Ở giữa hai hành động "cởi ra" và "mặc vào" trong trình thuật rửa chân là một cử chỉ tự hạ thẳm sâu. Còn ở giữa hai hành động "hy sinh" và "lấy lại" lại là sự tự hiến tuyệt vời: "Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình" ( Ga 15, 13 ). Cái chết của Ðức Giê-su ở trên thập giá chính là tuyệt đỉnh của một tình yêu phục vụ: "Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người" ( Mc 10, 45 ).

2. PHỤC VỤ CHO ÐẾN CÙNG

Tin mừng Gio-an không nói đến việc Ðức Giê-su lập Bí Tích Thánh Thể, nhưng khung cảnh của bữa tiệc ly được bổ túc bằng đoạn thư thứ nhất gửi tín hữu Cô-rin-tô giúp chúng ta hiểu rằng tiếp theo hành động có tính biểu tượng nối kết sự tự hạ với tự hiến là việc Chúa ban chính thịt máu của Người làm lương thực dưỡng nuôi nhân loại cùng với lệnh truyền: "Hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy" ( 1 Cr 11, 25 )

Việc Ðức Giê-su thiết lập Bí Tích Thánh Thể và chức Linh mục trong bữa Tiệc Ly chứng tỏ tình yêu của Người dành cho nhân loại. Yêu đến hiến mạng sống, yêu đến ban thân mình. Qua hai Bí Tích đó, Người muốn thực hiện lời hứa: "Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế" ( Mt 28, 20 ). Người yêu thương và yêu cho đến cùng. Dù không còn hiện diện cách hữu hình trên dương gian này, nhưng Người luôn có đó để trợ lực, để đồng hành với nhân loại qua phép Thánh Thể, qua con người linh mục với sứ mạng mục tử.

Như thế, qua Ðức Giê-su Ki-tô, mỗi người chúng ta đã dược Thiên Chúa yêu thương cách đặc biệt. Chúng ta có bổn phận làm cho tình yêu đó triển nở và được nhân rộng trong môi trường của mình bằng việc xóa mình đi: xóa đi những thành kiến, ích kỷ, toan tính vụ lợi... Ðồng thời, mỗi người cũng phải biết mở ra với những người chung quanh. Có như thế, tình yêu và sự sống mà chúng ta đón nhận được từ nơi Chúa Cha qua Ðức Giê-su mới thực sự sinh hoa kết quả dồi dào.

Trong ngày kỷ niệm Chúa Giê-su lập Bí Tích Thánh Thể và Bí Tích Truyền chức hôm nay, ta bắt gặp một hình ảnh Chúa Ki-tô Linh Mục hoàn toàn trái ngược với hội chứng quyền bính đã được người ta nói đến: một Thiên Chúa hạ mình để phục vụ, một mục tử tự hiến cho đến cùng. Quyền bính được trao cho Giáo Hội, chức vụ tư tế thừa tác được trao cho các linh mục ngày nay không ngoài mục đích để cho tình yêu cứu độ của Ðức Ki-tô còn tiếp tục hiện diện giữa thế giới này. Chúng ta cùng cầu xin cho các linh mục của Chúa ngày càng trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Ki-tô, vị Linh Mục đời đời.

Lm. KIỀU CÔNG TÙNG, Giáo Phận Sài-gòn

TIN MỪNG THỨ SÁU THÁNH: Ga 18, 1 - 19, 42

SUY NIỆM 1 THỨ SÁU THÁNH:

CUỘC VƯỠT QUA CỦA ÐỨC GIÊ-SU

Chắc chắn người Do-thái càng theo Ðức Giê-su trong những ngày cuối đời của Ngài thì lại càng thất vọng. Và khi ở sân phủ đường Phi-la-tô, có thể nói họ đã thực sự vỡ mộng. Bao nhiêu đợi chờ và hy vọng của họ đều như tan thành mây khói. Thay vì được reo hò tung hô một vị vua oai hùng, thì họ đang phải chứng kiến một kẻ thất thế, một khuôn mặt thảm thương, không còn dáng vẻ con người, đúng như những gì các ngôn sứ từng mô tả về Người Tôi Tớ Thống Khổ ( như ta vừa nghe trong bài đọc I ).

Thay vì được nhìn thấy Ngài và chính mình trong cảnh chiến thắng, trong vinh quang, trong quyền lực, thì kìa họ chẳng thấy Ngài thực hiện một cuộc Vượt Qua. một cuộc giải phóng nào cả, mà lại thấy Ngài từ bỏ vinh hoa, thậm chí đời Ngài sắp kết thúc nơi đích điểm là cái chết cầm chắc trong tay.

Họ đâu có ngờ là đúng lúc họ vỡ mộng như thế, một biến cố lớn lao đang xảy ra, đâu có ngờ là chưa khi nào và chưa một thế hệ nào có phúc như họ hôm đó, bởi vì chính hôm đó Thiên Chúa thực hiện cuộc Vượt Qua mới đích thực. So với cuộc Vượt Qua xưa kia, cuộc Vượt Qua mới có ba sự khác biệt lớn:

1. Sự khác biệt trước hết là trong lần này, Thiên Chúa ở cùng hơn khi xưa: hồi ở Ai-cập, chắc chắn ai trong số những người Do-thái cũng đều quý mến và nể phục ông Mô-sê, nhưng đồng thời ai cũng biết rằng đàng sau ông và bên trên ông, đang có Ðức Chúa vô hình, Ðấng lớn lao hơn và đang điều khiển mọi sự. Qua khuôn mặt, lời nói, hành động của ông Mô-sê, họ thấy Thiên Chúa thật gần họ và thấy như mình rờ đụng được sự hiện diện của Người.

                         Thế nhưng ở sân phủ đường Phi-la-tô, qua Ðức Giê-su. Thiên Chúa của họ còn gần hơn nữa. vì Người đang ngự sờ sờ ra đó ngay trước mặt họ. Khi Phi-la-tô chỉ vào Ðức Giê-su và nói: "Này người đó !" cả ông ta lẫn chính họ đâu có biết nghĩa của câu đó là: này là chính Thiên Chúa bằng xương bằng thịt, Thiên Chúa hiện ra rành rành, Thiên Chúa tỏ mình tỏ tường, Thiên Chúa đã đến nơi đây, đang ngồi đây, tại sân phủ đuờng này, thành một con người bằng xương bằng thịt. Thiên Chúa gần hơn, thật hơn, rõ hơn xưa kia biết bao. Họ đâu có ngờ được.

2. Sự khác biệt thứ hai là hôm nay, cuộc Vượt Qua đích thực đang xảy ra, không còn chỉ là biểu tượng, không còn chỉ là kỷ niệm. Tuy đối với họ, cuộc Vượt Qua khỏi Ai-cập ngày xưa là biến cố vô cùng lớn lao, đáng mọi thế hệ mừng nhớ, nhưng thật ra nó chỉ là hình ảnh báo trước về cuộc Vượt Qua lần này mà thôi. Nó chưa phải là cuộc Vượt Qua đích thực. Nó có mang lại cho Ít-ra-en sự tự do và sự tồn tại đã nhiều thế kỷ, nhưng chắc chắn nó không có tính cách đời đời. Ðồng thời người Do-thái mừng Lễ Vượt Qua một cách long trọng và họ coi trọng lễ sát tế chiên Vượt Qua đang diễn ra ở Ðền Thờ Giê-ru-sa-lem. nhưng cuộc lễ ấy và việc tế hiến ấy cũng chỉ là kỷ niệm về một biến cố đã qua, đâu có phải là thực tại, như khi Ðức Giê-su chết trên thập giá, khi Ngài là Chiên Vượt Qua chính hiệu ( vì Ngài giống con chiên Vượt Qua, không bị đánh dập cái xương nào, mà chỉ bị đâm thủng cạnh sườn ) khi Ngài là Thượng Tế đích thực.

Các cử hành ở Ðền Thờ chỉ là nghi lễ và kỷ niệm, còn lúc Ðức Giê-su tắt thở trên thập giá, thực tại đã xảy đến, đó chính là thời điểm Con Thiên Chúa và cả nhân loại vượt từ cõi chết sang cõi sống

3. Sự khác biệt thứ ba, vô cùng đáng buồn, đó là trong cuộc Vượt Qua khi xưa, toàn dân phấn chấn quây quần chung quanh Mô-sê, vồn vã đón chờ từng mệnh lệnh một của Ðức Chúa và sẵn sàng lên đường, không một phút chậm trễ, còn trong hiện tại, họ không nhận ra thời điểm mình sắp được đời đời giải phóng và đang thẳng thừng từ khước Mô-sê Mới của mình. Ðối với Ðức Giê-su vô tội cũng là chính Ðức Chúa đang sờ sờ trước mặt, họ điên cuồng la lên "Ðóng đinh nó vào thập giá".

Ðúng là không có ngày nào bẽ bàng cho Thiên Chúa cho bằng hôm thứ sáu ấy. Sau hàng ngàn năm yêu thương và chuẩn bị con người cho Ngày vĩ đại, Người đã gặt hái sự phản trắc của đoàn con nghĩa thiết. Lời lên án và cái chết thập giá họ dành cho Ðức Giê-su tố giác sự chọn lựa sai lầm của họ đúng vào dịp may ngàn năm một thuở. Nhưng không phải chỉ người Do-thái mới phản ứng như thế, mà rất có thể chính chúng ta cũng đang phản ứng như thế, qua Ðức Tin sa sút, qua nếp sống tầm thường của mình. Thập giá Chúa luôn luôn còn là câu hỏi, là sự cật vấn đối với chúng ta.

Lát nữa đây, chúng ta sẽ lên hôn kính Thánh Giá. Mỗi người hãy tự nghĩ về cái hôn mà mình sắp dành cho Chúa. Mình muốn cái hôn ấy của mình mang ý nghĩa một cái hôn phản bội, giả hình, hay một cái hôn yêu mến và gắn bó ?

Lm. TRẦN THẾ PHIỆT, DCCT, Ðà Lạt

SUY NIỆM 2 THỨ SÁU THÁNH:

TƯỞNG NIỆM CUỘC THƯƠNG KHÓ CỦA CHÚA

CUỘC KHỔ NẠN CỦA CHÚA GIÊ-SU

Hôm nay toàn dân Chúa tưởng niệm cuộc Thương Khó của Chúa Giê-su. Phúc Âm nhất lãm và Tin Mừng của thánh Gio-an đều tường thuật về cuộc khổ nạn của Chúa Giê-su. Mỗi tác giả đều có những nét đặc biệt cho Tin Mừng của mình. Tuy bốn Phúc Âm đều tường thuật lại như nhau về cuộc thương khó của Chúa Giê-su, nhưng đặc biệt thánh Gio-an cũng đã để lộ những nét cá biệt của Người trong việc tường thuật này. Trong cuộc tưởng niệm cuộc khổ hình của Chúa Giê-su, ta dừng lại ở Mầu Nhiệm Thập Giá mà Chúa Giê-su ngang qua cái chết: "Khi nào Ta bị treo lên khỏi đất Ta sẽ kéo mọi người đến cùng Ta" ( Ga 12, 32 ) hoặc "Không có tình yêu nào cao vời cho bằng tình yêu của người hiến mạng sống mình" ( Ga 15, 13 ).

HẠT LÚA MÌ RƠI XUỐNG ÐẤT...

Thập giá của Ðức Ki-tô vẫn tàng ẩn ngay sau bản án mà người Do-thái gán Chúa Chúa Giê-su. Ðối diện với thập giá, thế gian được chia làm hai hoặc tin nhận hoặc khước từ. "Kẻ nghe lời Ta và tin vào Ðấng đã sai Ta, thì có sự sống đời đời, và khỏi phải đến tòa phán xét nhưng đã ngang qua sự chết mà vào sự sống" ( Ga 5, 24 ) hoặc "Kẻ tin vào Ngài, thì không bị án xử, kẻ không tin thì đã bị án xử rồi, bởi vì không tin vào Danh Con Một của Thiên Chúa" ( Ga 3, 18 ).

Thật thế, Thiên Chúa vì quá yêu thế gian dù rằng nhân loại tội lỗi, thế gian phản bội, Ngài không loại bỏ thế gian, nhưng đã sai Con của Ngài là Chúa Giê-su đến gian trần. Chúa Giê-su đã thi hành chương trình cứu rỗi trần thế theo ý Ðức Chúa Cha. Chúa Giê-su đã thực hiện luật yêu thương của Tin Mừng: "...Hạt lúa mì gieo xuống đất, thúi đi và chết đi, thì sinh nhiều hoa trái" ( Ga 12, 24 ).

Chúa Giê-su Ki-tô đã sống cái cùng tận của định luật tình yêu là chấp nhận cái chết nhục hình trên thập giá vì yêu nhân loại, dù Ngài hoàn toàn vô tội ( Mt 27, 4 ). Chúa Giê-su Ki-tô đã chấp nhận như một tội nhân nặng nhất để bị nguyền rủa ( Ga 3, 13 ) và phải kết án tử hình bằng việc bị đóng đinh, hình phạt ghê gớm và nhục nhã nhất lúc đó ( Ga 19, 16 ). Ngài làm thế để ứng nghiệm lời Ngài nói: "Và Ta, một khi Ta được giương cao khỏi đất, Ta sẽ kéo mọi người lại với Ta" ( Ga 12, 32 ).

Ðây là mầu nhiệm sâu thẳm của tình thương giữa Thiên Chúa và nhân loại: "Quả vì Thiên Chúa đã yêu thế gian như thế đó, đến nỗi đã thí ban Người Con Một..." ( Ga 3, 16 ) và "Ðức Giê-su biết rằng đã đến giờ Ngài qua khỏi thế gian này để đến cùng cha… thì Ngài đã yêu mến họ đến cùng" ( Ga 13, 1 ). Chúa Giê-su đã hoàn tất công trình cứu độ nhân loại trên thập giá. Chính trên thập giá, Ðức Giê-su Ki-tô kéo mọi người đến cùng Ngài để hình thành nên một cộng đoàn mới của dân Thiên Chúa. Hình ảnh Ðức Giê-su chịu chết, treo trên thập giá làm tôi liên tưởng tới ông tổ của người dân tộc Kơho là Xơrơđen,: "Ông Xơrơđen cũng đóng khố có kết tua xinh đẹp, cũng mặc áo thêu hoa đỏ tươi, cũng vác xà gạc sắc ( wiăs nhơr ) như nước trên vai, mang gùi nặng sau lưng, cũng đánh chiêng, uống rượu cần..." ( K' Bon và ông Mang Xăng kể ) và Ông tổ người Kơho đã hy sinh chết hiên ngang cho dòng tộc Kơho của mình, cho sự tồn vong của con cháu và như thế niềm tin của người Kơho cũng thấp thoáng, cũng ẩn tàng một cái gì đó rất bình dị, nhưng cũng rất linh thiêng.

NIỀM TIN CỦA NHÂN LOẠI NƠI THẬP GIÁ CHÚA GIÊ-SU

Mầu nhiệm thập giá là mầu nhiệm tình thương. Trên thập giá, Chúa Giê-su đã qui tụ muôn dân muôn nước và cũng chỉ nơi thập giá ơn cứu độ của Chúa mới tuôn tràn nơi mọi người. Ông Caipha thượng tế đã nói một lời phán quyết về Chúa Giê-su như một lời ngôn sứ: "Ðiều ấy, ông đã nói ra, không phải tự mình, nhưng vì là Thượng Tế năm ấy, ông đã nói ngôn sứ là Ðức Giê-su sắp phải chết thay cho cả dân tộc; và không chỉ thay cho dân tộc mà thôi nhưng còn để thâu họp con cái Thiên Chúa tản mác về lại làm một" ( Ga 11, 51 - 52 ).

Chúa Giê-su đã thực hiện ý nhiệm mầu của Thiên Chúa Cha là hy sinh mạng sống, gánh tội trần gian, chết vì yêu thương gian trần. Ðây là mầu nhiệm của lòng tin và chỉ có đức tin sâu thẳm, con người mới nhận ra điều đó. Nhân loại ở muôn thời vẫn hiểu rằng bao lâu còn Ki-tô giáo bấy lâu thánh giá còn vươn cao. Thập giá là biểu hiệu của người Ki-tô hữu và đó là dấu hiệu của tình thương, của sự hiệp nhất, của sự cảm thông, chia sẻ và tha thứ.

Tôi còn nhớ trong một lớp Giáo Lý cho người tân tòng Kơho, tôi nói rằng: "Chúa Giê-su là Con Chúa Cha, đã yêu thương con người, giống như anh chị em thương con cái của anh chị em, khi thấy con cái mình bị đau ốm, bị thú rừng tấn công nguy hiểm, anh chị em đem hết tình thương để cứu con mình dù rằng tính mạng mình có thể hiểm nguy, anh chị em vẫn cứu con. Chúa Giê-su cũng vậy vì yêu chúng ta, yêu mọi người, Chúa đã chấp nhận lời của Cha Ngài là Chúa Cha, vâng ý Chúa Cha, chấp nhận cái chết mặc dù Ngài không có tội gì. Chúa Giê-su bị bắt, bị kết án và bị đóng đinh trên thập giá như anh chị em vẫn thấy trong nhà thờ, trên ngực người mang Thánh Giá và tôi rút trong túi áo ra một cây Thánh Giá Truyền Giáo, rồi giơ cho lớp Giáo Lý tân tòng coi. Tất cả đều trầm trồ khen Chúa dễ thương và vỗ tay  tán thành vang dội, trước sự xúc động cao độ của tôi..."

Lạy Chúa Giê-su, xin cho mọi người chúng con suy niệm kỹ càng lời mời gọi kính thờ Thánh Giá: "Ðây là cây thánh giá, nơi đã treo Ðấng Cứu Ðộ trần gian".

Lm. Giu-se NGUYỄN HƯNG LỠI, DCCT, Giáo Phận Ðà Lạt

SUY NIỆM 3 THỨ SÁU THÁNH:

SỰ PHẢN BỘI CỦA A-ÐAM

Hôm nay Thứ Sáu Tuần Thánh, Giáo Hội dành nhiều giờ long trọng tưởng niệm mầu nhiệm đau khổ và tử nạn của Chúa Ki-tô. Nhất là cả cộng đoàn vừa lắng nghe cả một bài ca Thương Khó dài. Và một lý do khác nữa, có lẽ ngày hôm nay mọi miệng lưỡi phải thinh lặng thật lâu và thật sâu để sống lại thời khắc thánh thiện và cao điểm nhất của cả Năm Phụng Vụ.

Vì thế thay vì chia sẻ Lời Chúa như thường lệ, chúng ta hãy cùng nhau quay về với nguồn gốc mà từ đó phát sinh tội lỗi để chúng ta thật lòng sám hối chính những tội lỗi của mình. Ðó chính là những hình ảnh của sách Sáng Thế: "Ðức Chúa là Thiên Chúa nói: Này con người đã trở thành như một kẻ trong chúng ta, biết điều thiện điều ác. Bây giờ đừng để nó giơ tay hái cả trái cây trường sinh mà ăn và được sống mãi" ( St 4, 22 ).

Thật đáng tiếc cho A-đam, giữa một bên là lời yêu thương nhắn nhủ của Thiên Chúa: "Hết mọi trái cây trong vườn, ngươi cứ ăn. Nhưng trái cây cho biết điều thiện, điều ác, thì ngươi không được ăn. Vì ngày nào ngươi ăn, chắc chắn ngươi sẽ phải chết" ( St 2, 16 - 17 ). Còn bên kia là lời xảo quyệt mưu mô của tên cám dỗ: "Các ngươi cứ ăn đi, Thiên Chúa cấm vì Người biết ngày nào các ngươi ăn, các ngươi sẽ nên những vị thần biết thiện biết ác. Các ngươi cứ ăn, không chết chóc gì đâu" ( St 3, 4 - 5 ).

Vậy mà A-đam đã đánh đổi chính lời của Thiên Chúa để nghe lời xảo quyệt của kẻ cám dỗ. Cùng với hành động tội lỗi, con người đã đạt mục đích: trở thành một bậc hiểu biết điều lành sự dữ ! Nhưng cái giá phải trả cho sự hiểu biết này quá đắt: Con người mất tất cả và mất cả chính mình. "được sống mãi" đâu không thấy, chỉ có nỗi nhục nhã, đau khổ, chết chóc là bám lấy con người. Rốt cuộc "biết lành biết dữ" cũng không phải là cái được, nhưng là cái mất. Biết làm chi để rồi nhận ra mình trần trụi. Sự kiêu ngạo đã làm cho con người vong thân nghiệt ngã.

Kinh nghiệm tội lỗi dù đã làm con người khiếp sợ nhưng nó vẫn không thể tự mình đứng vững. Sau mỗi lần phạm tội là mỗi lần đổ vỡ, là ray rứt, là mất mát, nhưng nó vẫn cứ lao vào. Vong thân đẩy con người đi từ nghiệt ngã này đến nghiệt ngã khác.

Giữa lúc bi thương ấy, Lời Hứa Cứu Ðộ: "Ta sẽ đặt hận thù giữa mi và người nữ, giữa dòng dõi mi và dòng dõi bà. Dòng dõi bà sẽ đạp đầu mi" ( St 7, 14 ) được thực hiện. Ngày xưa khi A-đam bị đuổi khỏi Ê-đen, cửa trời khép lại, hạnh phúc khép lại. Ngày nay, chính Chúa Ki-tô đến ôm trọn nỗi khổ đau của con người, chia sớt đến cùng những khắc khoải của con người về lẽ sống. Nhờ Ngài, cửa trời lại mở ra, hạnh phúc mở ra, Ơn Cứu Ðộ mở ra.

Kiêu ngạo của A-đam là độc tố giết chết tương quan giữa con người với Thiên Chúa, giữa con người với nhau và với chính mình. Bản chất kiêu ngạo ấy hình như vẫn tồn tại nơi mỗi người. Bởi thế chúng ta hãy khiêm tốn cúi đầu, đấm ngực mình để thống hối. Sau mỗi lần gợi ý sám hối, chúng ta dừng lại trong thinh lặng, xin Chúa tha thứ cho ta.

Phải chăng vì kiêu ngạo, chúng ta chưa tha thứ cho nhau ?

Phải chăng vì kiêu ngạo, chúng ta không nói được một lời xin lỗi nhau ?

Phải chăng vì kiêu ngạo, chúng ta không đón nhận lời góp ý của anh chị em với mình ?

Phải chăng vì kiêu ngạo, chúng ta không vui khi thấy người khác hơn mình, hay ngược lại, vui vì nghĩ rằng mình hơn hẳn người khác ?

Và phải chăng, vì kiêu ngạo, chúng ta luôn phàn nàn, chê trách, bàn tán, phẩm bình về những thiếu sót của anh chị em mình ?

Chúng ta xin Chúa tha thứ và hoán cải để mỗi ngày một trở nên hiền lành, khiêm nhường như Chúa.

Lm. JB NGUYỄN MINH HÙNG, Giáo Phận Phú Cường

CHỨNG TÁ:

ÐƯỜNG THÁNH GIÁ VÒNG QUANH THẾ GIỚI

Kỷ lục Guiness năm 1996 ghi lại một chuyện đánh động mọi người: Anh Arthur Blessit người Hoa Kỳ, 55 tuổi đã ròng rã suốt 26 năm vác trên vai một cây Thập Giá bằng gỗ, dọc 3m60 và ngang 1m80, nặng 18 ký, đi bộ vòng quanh thế giới. Khi khởi hành tại Los Angeles vào năm 1969, anh đã ngỏ lời xin nhận cuộc hành trình của mình như là một cống hiến mang tính tôn giáo cho tất cả những ai đang khao khát sống yêu thương theo gương Ðức Giê-su.

Tính đến 1996, anh đã trải qua 26 mùa Giáng Sinh rong ruổi trên đường xa, cứ mỗi 4.800 cây số, anh lại phải thay một đôi giày. Dọc đường, tại London, thủ đô nước Anh, anh đã kết hôn với chị Denise. Ðiều trớ trêu là không ít Nhà Thờ trên lộ trình của anh đã không muốn đón tiếp vì cho rằng anh là một người điên điên khùng khùng, hoặc có ý đồ khích động gì đấy ! Tuy nhiên, anh đã có vinh dự được đồng hành với một số vị thủ lãnh tôn giáo như Ðức Gio-an Phao-lô 2, Billy Graham... Anh đã từng bị các loài như: voi, cá sấu, khỉ, rắn và cả con người tấn công. Anh thuật lại:

"Tôi đã đi qua các sa mạc, rừng rậm. Tôi đã băng ngang những nơi đang có chiến tranh hoặc bạo động. Tôi đã từng bị cảnh sát các nước bắt giam 21 lần vì những tội vớ vẩn như đi tha thẩn, cản trở giao thông, hoặc bị tình nghi là có mưu đồ xúi bẩy bạo động...

Tôi đã từng một lần phải đối mặt với một đội hành quyết năm 1978 tại nước Nicaragua. Hôm  ấy, tôi đang cùng một người bạn đi dọc con lộ mang tên Pan America, còn người thông dịch của tôi thì theo sau trên một chiếc xe tải quá giang. Bỗng có 7 người đàn ông mang súng chặn đường và lôi tôi ra cột vào một gốc cây. Họ bảo họ sắp xử bắn tôi. Tôi bảo họ rằng tôi không thể chết nếu không có một cuốn Kinh Thánh trên tay. Họ đồng ý mở trói để tôi đón chiếc xe tải sắp đến và lấy cuốn Kinh Thánh. Thế rồi, tôi đã lấy được trong ba-lô cất trên xe đem tặng cho mỗi người một cuốn Kinh Thánh nhỏ. Họ có vẻ bối rối, và rồi họ đã đồng loạt hạ súng, tha cho tôi được ra đi bình an..."

Tính đến năm 1996, anh Arthur Blesitt đã đi được 50.140 cây số, qua 227 nước khác nhau. Anh cho biết: còn phải đến 50 nước nằm trên 7 lục địa lớn nhỏ...

Theo tạp chí KIẾN THỨC NGÀY NAY 1996.

TÀI LIỆU:

SUY NIỆM ÐƯỜNG THÁNH GIÁ

I. DẪN NHẬP:

Kính thưa cộng đoàn ! Thiên Chúa yêu thương con người. Và thập giá là bằng chứng của tình yêu cao cả ấy. Trong lời đầu của Sứ Ðiệp Ngày Quốc Tế Giới Trẻ năm 2000, Ðức Thánh Cha Gio-an Phao-lô 2 đã viết: "Cách đây 15 năm ( 1983 ), Cha đã giao cho các con một cây Thập giá lớn bằng gỗ, mời gọi các con vác nó đi khăp thế giới như dấu chỉ lòng Chúa Giê-su yêu thương loài người và để loan báo rằng chỉ nhờ Ðức Ki-tô tử nạn và Phục sinh chúng ta mới được cứu rỗi". Từ đó, Thập Giá Chúa Giê-su được nhiều cánh tay và quả tim quảng đại của các bạn trẻ khắp năm châu vác lấy, làm nên một cuộc lữ hành dài không ngơi nghỉ qua các đại lục.

Thật vậy, Thập Giá mà chúng ta suy tôn chiều nay như muốn minh chứng một chân lý: Vì yêu thương chúng ta, Chúa Ki-tô đã không ngần ngại một hành vi nào, cho dù phải đổ máu. Qua câu khẳng định của thư Do-thái: "Không có đổ máu sẽ không có ơn cứu độ" chúng ta mới hiểu được thế nào là cái giá của hy sinh, của đau khổ của tình yêu và cho tình yêu.

Dừng lại ở các chặng thứ 1, 4, 5, 9, 12, tiêu biểu cho cả Hành Trình Thập Giá, chúng ta được mời gọi tham dự vào những đau khổ của Chúa, nhận ra bộ mặt tội lỗi của trần gian; đồng thời, khám phá muôn hồng ân mà chúng ta đã, đang và sẽ được lãnh nhận qua mỗi chặng đường Thương Khó đó.

Lạy Chúa Giê-su ! Chúng con muốn hướng lòng theo Chúa tiến về Can-vê. Chúng con muốn tưởng nghĩ đến nỗi thống khổ và cái chết của Chúa để hiểu rõ tình Chúa đã yêu thương chúng con thế nào. Ðây cũng là dịp giúp chúng con biết tránh xa tội lỗi, gạt bỏ tất cả những gì làm chúng con xa Chúa.

Lạy Mẹ Ma-ri-a ! Mẹ đã đồng hành với Chúa trên con đường khổ nạn này. Xin Mẹ nhắc nhở chúng con những điều mà Mẹ đã thấy, đã nghe và những đau khổ mà chính Mẹ đã chịu, để việc suy niệm cuộc Thương Khó của Chúa giờ đây mang lại nhiều ích lợi cho chúng con ( Chọn một bài hát ngắn thích hợp ).

2. CHẶNG ÐÀNG THÁNH GIÁ:

CHẶNG THỨ 1: PHILATÔ KẾT ÁN ÐỨC