GOSPELNET

 

 

 

 

 

Text Box: NĂM THỨ BA - SỐ 109 
CHÚA NHẬT 13.4.2003
 

 

 

 

 


CHÚA NHẬT LỄ LÁ

 

TIN MỪNG: Mc 14, 1 - 15, 47 ( Trích trình thuật Thương Khó )

               ...Vì muốn chiều lòng đám đông, ông Phi-la-tô phóng thích tên Ba-ra-ba, truyền đánh đòn Ðức Giê-su, rồi trao Người cho họ đóng đinh vào thập giá... Chúng đưa Người lên một nơi gọi là Gôn-gô-tha, nghĩa là Ðồi Sọ... Chúng đóng đinh Người vào thập giá, rồi đem áo Người ra bắt thăm mà chia nhau, xem ai được cái gì. Lúc chúng đóng đinh Người là giờ thứ ba. Bản án xử tội Người viết rằng: "Vua người Do-thái". Bên cạnh Người, chúng còn đóng đinh hai tên cướp, một đứa bên phải, một đứa bên trái. Thế là ứng nghiệm lời Kinh Thánh: Người bị liệt vào hạng những tên phạm pháp.

                Kẻ qua người lại đều nhục mạ Ðức Giê-su, vừa lắc đầu vừa nói: "Ê, mi là kẻ phá Ðền Thờ, và nội trong ba ngày xây lại được, có giỏi thì xuống khỏi thập giá mà cứu mình đi !" Các thượng tế và kinh sư cũng chế giễu Người như vậy, họ nói với nhau: "Hắn cứu được thiên hạ, mà chẳng cứu nổi mình. Ông Ki-tô vua Ít-ra-en, cứ xuống khỏi thập giá ngay bây giờ đi, để chúng ta thấy và tin". Cả những tên cùng chịu đóng đinh với Người cũng nhục mạ Người.

               Vào giờ thứ sáu, bóng tối bao phủ khắp mặt đất mãi đến giờ thứ chín. Vào giờ thứ chín, Ðức Giê-su kêu lớn tiếng: "Ê-lôi, Ê-lôi, la-ma xa-bác-tha-ni !" Nghĩa là: "Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con ?"... Ðức Giê-su lại kêu lên một tiếng lớn, rồi tắt thở. Bức màn trướng trong Ðền Thờ bỗng xé ra làm hai từ trên xuống dưới. Viên đại đội trưởng đứng đối diện với Ðức Giê-su, thấy Người tắt thở như vậy liền nói: "Quả thật, người này là Con Thiên Chúa"...

SUY NIỆM 1:

ÐỨC GIÊ-SU VÀ THẬP GIÁ

Sau khi đã giới thiệu về các khía cạnh của con người Ðức Giê-su trong các Chúa Nhật Mùa Chay vừa qua, hôm nay, Chúa Nhật Lễ Lá mở đầu cho tuần Thương Khó của Ðức Giê-su, lời Chúa mời gọi chúng ta cùng suy niệm về những giờ phút cuối cùng của Ngài trên con đường thập giá.

Suy niệm về những đau khổ Ðức Giê-su đã trải qua, không phải để chúng ta bi quan, nhưng là cơ hội để từng người chúng ta nhận ra sự nặng nề của tội lỗi, đồng thời, cũng là cơ hội giúp chúng ta nhận ra tình yêu vô bờ bến mà Thiên Chúa dành cho từng người chúng ta. Nhờ đó, chúng ta đủ can đảm và nghị lực để đi trọn con đường thập giá của mình, ngõ hầu chúng ta cũng có thể tham dự vào sự Phục Sinh của Ðức Ki-tô, Chúa chúng ta.

1. THÁI ÐỘ CỦA ÐÁM ÐÔNG ÐỐI VỚI ÐỨC GIÊ-SU:

Trước hết, chúng ta cùng nhìn lại thái độ của dân chúng đối với Ðức Giê-su. Ngay khi Ðức Giê-su vào thành để dự Lễ Vượt Qua, dân chúng đã đổ xô ra đường, chặt cành lá, trải áo, tung hô để đón rước Ngài như một vị vua. Họ muốn Ngài đứng ra làm vua Thiên Sai theo ý họ, giải thoát họ khỏi ách thống trị của ngoại bang. Thế nhưng, Ðức Giê-su đã vào thành không phải trên lưng một con ngựa chiến, nhưng là trên lưng một con lừa khiêm nhu. Ngài đã không thoả mãn những đòi hỏi theo cái nhìn trần thế của đám đông dân chúng. Ngài đến là để thực hiện chương trình của Chúa Cha như lời ngôn sứ I-sai-a đã báo trước: "Mỗi sáng Người đánh thức tôi, Người thức tỉnh tai tôi, để nghe lời Người giáo huấn... Tôi đã đưa lưng cho kẻ đánh tôi, đã đưa má cho kẻ giật râu, tôi đã không che giấu mặt mũi tránh những lời nhạo cười và nhưng người phỉ nhổ tôi".

Như thế, Ðức Giê-su đến trần gian không phải để làm một vị vua theo nghĩa chính trị, nhưng là để "gánh tội trần gian" ( Ga 1, 29 ). Thánh Phao-lô đã đúc kết sứ mạng của Ðức Giê-su như sau: "Chúa Giê-su Ki-tô, tuy là thân phận Thiên Chúa, đã không nghĩ phải dành cho được ngang hàng với Thiên Chúa; trái lại, Người huỷ bỏ chính mình... Người đã tự hạ mình mà vâng lời cho đến chết, và chết trên thập giá".

Thế là dân chúng đã thay đổi thái độ. Họ chuyển những lời tung hô, chúc tụng thành lời kết án. Chính họ đã trao nộp Ðức Giê-su cho tổng trấn Phi-la-tô, một người dân ngoại. Tin mừng thuật lại: "Vừa tảng sáng, các thượng tế hội nghị với các kỳ lão, luật sĩ và toàn thể công nghị. Họ đã trói Chúa Giê-su và giải nạp Người cho Phi-la-tô". Tệ hơn nữa, khi được Phi-la-tô hỏi về số phận của Ðức Giê-su, dân chúng đã xin quan tha cho Ba-ra-ba, một tên trộm cướp, giết người và đòi đóng đinh Ðức Giê-su. Họ đã coi Ðức Giê-su không bằng một tên cướp.

Tới đây, có lẽ chúng ta chê trách thái độ vô ơn, bạc bẽo, phụ bạc của dân Do-thái. Thế nhưng, đây cũng có thể là thái độ của mỗi người chúng ta. Khi có người không vừa ý với chúng ta, chúng ta đã vội kết án, và tìm đủ cách để dìm người đó xuống, mà không màng tới lẽ phải và công bằng. Chẳng phải chúng ta cũng từng bỏ giờ thờ phượng Chúa chỉ vì một vài lợi ích nào đó trước mắt sao ?

2. THÁI ÐỘ CỦA CÁC MÔN ÐỆ ÐỐI VỚI ÐỨC GIÊ-SU:

Chúng ta cũng hãy cùng nhau suy niệm về cuộc Thương Khó của Ðức Giê-su, đó là sự phản bội của những người thân tín nhất, trong những giờ phút quan trọng nhất. Ðó là sự phản bội của Giu-đa, và việc chối Thầy của Phê-rô. Ðây là sự bội phản mà Ðức Giê-su đã biết trước. Ngay trong bữa tiệc sau hết với các môn đệ, Ngài nói: "Thầy nói thật với các con: có một người trong các con sẽ nộp Thầy". Và cũng trong bữa tiệc này, mặc dù Phê-rô lên tiếng mạnh mẽ: "Dù tất cả vấp phạm về Thầy, riêng con, con sẽ không bao giờ vấp phạm", nhưng Ngài biết rõ yếu đuối của ông: "Thầy bảo thật con, chính đêm nay, trước khi gà gáy, con sẽ chối Thầy ba lần".

Giu-đa và Phê-rô là hai môn đệ được Ngài tin tưởng nhất. Vì tin tưởng nơi các ông, nên Ðức Giê-su đã giao cho Giu-đa nhiệm vụ "tay hòm, chìa khoá", nghĩa là làm nhiệm vụ thủ quỹ cho các Ngài. Còn Phê-rô, thì Ngài đã đặt làm đầu các Tông Ðồ. Thế mà giờ đây, cả hai đều vấp ngã. Còn các môn đệ khác đều chạy trốn hết cả. Thử hỏi còn đau khổ nào hơn thế nữa. Nỗi đau khi bị chính những người mình thân yêu, tin tưởng nhất phản bội. Nỗi đau này còn lớn hơn nữa bởi Ngài đã được nhìn thấy trước mà không thể tránh. Hiểu như thế, chúng ta mới có thể cảm thông được phần nào lời tâm sự của Ðức Giê-su trong vườn Ghết-sê-ma-ni: "Linh hồn Thầy buồn đến chết đựơc".

3. THÁI ÐỘ CỦA ÐỨC GIÊ-SU VỚI CHÚA CHA

Chúng ta cũng nhận ra điều này: có lẽ sự đau khổ lớn nhất của Ðức Giê-su trong cuộc khổ nạn này là sự im lặng của Chúa Cha. Từ khi Ðức Giê-su bị trao nộp, chịu các cực hình, bị dân chúng và binh lính sỉ vả và đóng đinh trên thập giá, chúng ta không hề thấy có sự xuất hiện của Chúa Cha. Ðau khổ này lớn đến nỗi, Ngài đã phải kêu lên: "Lạy Chúa tôi, lạy Chúa tôi, tại sao Chúa bỏ tôi ?" Tuy nhiên, đây không phải là một lời than trong tuyệt vọng, nhưng khi dùng lại lời của Thánh Vịnh 22 này như lời kinh trước giờ chết của mình, Ðức Giê-su đã chứng tỏ một lòng cậy trông vững chắc của Ngài vào sức mạnh và tình yêu của Thiên Chúa.

Vâng, đứng trước tất cả những đau đớn bởi đòn vọt, tra tấn nhất là những đau khổ trong tâm hồn như thế, với sức tự nhiên của con người, quả thật, không thể chịu đựng nổi. Nhưng Ðức Giê-su đã vượt qua tất cả. Ngài đã đi trọn vẹn con đường Thương Khó, đến hơi thở cuối cùng trên thập giá. Ngài đã hoàn tất nhờ sức mạnh của tình yêu mà Ngài dành cho loài người chúng ta, như lời Ngài đã nói: "Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình" ( Ga 15, 13 ). Và nhất là vì Ðức Giê-su đã luôn phó thác trọn vẹn cuộc sống mình trong tay Chúa Cha như một người tôi tớ khiêm hạ mà ngôn sứ Isaia đã báo trước: "Vì Chúa nâng đỡ tôi, nên tôi không hổ thẹn".

4. THÁI ÐỘ CỦA CHÍNH CHÚNG TA:

Cuối cùng, khi suy niệm cuộc Thương Khó của Ðức Giê-su hôm nay, phụng vụ còn cho chúng ta thấy rằng: Sự chết của Ðức Giê-su trên thập giá không phải là dấu chấm hết. Nhưng đó là một sự khởi đầu, như lời Ngài nói mà chúng ta vừa nghe trong Chúa Nhật vừa qua: "Khi nào Ta chịu đưa lên cao khỏi đất, Ta sẽ kéo mọi người lên cùng Ta". Và kết quả đầu tiên từ cái chết của Ngài đó là: "Màn trong đền thờ xé ra làm đôi từ trên xuống dưới". Với cái chết của mình, Ðức Giê-su đã thực sự xé tan bức màn ngăn cách chúng ta với Thiên Chúa. Bức màn đã được dựng nên do bởi tội Nguyên tổ và tội riêng của từng người chúng ta. Ngài đã giao hoà chúng ta với Thiên Chúa ngang qua thân xác của Ngài. Từ đây, mỗi người chúng ta có thể đến trực tiếp với Thiên Chúa. Và cũng từ cái chết của Ðức Giê-su, ơn cứu độ đã đựơc ban cho mọi dân tộc mà lời tuyên xưng của chính viên sĩ quan là một khởi đầu: "Ðúng người này là Con Thiên Chúa".

Hôm nay, ngày đầu tiên của Tuần Thánh, chúng ta vừa cùng nhau suy niệm về cuộc Thương khó của Ðức Giê-su. Những đau khổ mà Ðức Giê-su phải chịu chính là do tội lỗi của tôi và quý ông bà anh chị em. Giờ đây, trong tâm tình tạ ơn, chúng ta cùng xin Chúa ban ơn giúp sức cho từng người chúng ta can đảm từ bỏ tội lỗi, cùng với đời sống bất công, thiếu bác ái. Ðồng thời, sẵn sàng chấp nhận thập giá Chúa gởi đến hàng ngày trong cuộc sống để kết hiệp với cuộc khổ nạn của Ðức Ki-tô. Nhờ đó, chúng ta cũng sẽ được cùng Ngài sống lại trong vinh quang sau này. Amen.

Lm. TRẦN THANH SƠN, Giáo Phận Xuân Lộc

SUY NIỆM 2:

BẰNG CHỨNG TÌNH YÊU

1.   ÐỨC GIÊ-SU CHỊU ÐAU KHỔ ÐỂ CỨU NHÂN LOẠI KHỎI ÐAU KHỔ

Mầu nhiệm được cử hành trong Tuần Thánh - làm cho chúng ta hết sức cảm động - là Ðức Giê-su đã chấp nhận chịu đau khổ và chết thay cho chúng ta, để giải thoát chúng ta khỏi đau khổ và sự chết trong cảnh giới vĩnh cửu. Tất cả đều vì yêu thương chúng ta: "Tội lỗi của chúng ta, chính Người đã mang vào thân thể mà đưa lên cây thập giá, để một khi đã chết đối với tội, chúng ta sống cuộc đời công chính. Nhờ Người mang những vết thương của anh em mà anh em đã được chữa lành" ( 1 Pr 2, 24 ).

Theo Niềm Tin Ki-tô Giáo, Ðức Giê-su chính là Con Thiên Chúa. Ngài chẳng những là người hoàn toàn vô tội, mà còn là một con người hoàn hảo nhất của nhân loại. Thế nhưng Ngài lại phải chịu những cực hình khủng khiếp, đau đớn nhất của con người. Những đau khổ ấy, Ngài đã tự nguyện chịu, mặc dù từ thâm tâm Ngài cũng rất sợ hãi trước đau khổ. Việc Ngài lo buồn đến mức đổ mồ hôi máu trong Vườn Cây Dầu ( x. Lc 22, 44 ) nói lên nỗi sợ hãi hết sức cao độ ấy.

Nhưng dù biết trước những cực hình khủng khiếp đã khiến Ngài phải sợ hãi như thế, Ngài vẫn tự nguyện đón nhận, vì muốn hoàn thành Thánh Ý Chúa Cha là cứu độ loài người, và vì chính Ngài cũng yêu thương con người, muốn cứu họ khỏi tội lỗi và hậu quả khủng khiếp của tội lỗi. Dù bản năng có ham sống sợ chết, ham sướng sợ khổ, Ngài vẫn vui lòng chấp nhận đau khổ và chết, để con người được sống và sống hạnh phúc: "Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha" ( Mt 26, 39 ).

2. ÐỨC GIÊ-SU THỰC HIỆN SỰ CÔNG BÌNH VÀ TÌNH YÊU CỦA THIÊN CHÚA ÐỐI VỚI NHÂN LOẠI TỘI LỖI

Vì tội của nguyên tổ và của riêng từng người, đáng lẽ nhân loại chẳng những bị mất hạnh phúc vĩnh cửu mà còn phải chịu đau khổ đời đời. Sự công bình nơi bản tính của Thiên Chúa đòi buộc mọi tội lỗi đều phải đền trả, nghĩa là con người phải chịu hình phạt xứng đáng. Nếu thế con người sẽ phải đau khổ đời đời! Nhưng tình yêu vô biên của Ngài đối với con người đòi hỏi Ngài phải ra tay cứu họ, nếu không thì không còn là tình yêu nữa! Vừa bắt con người phải đền tội, vừa phải ra tay cứu họ, đối với trí óc của con người điều đó quả là mâu thuẫn và nan giải! Nhưng sự khôn ngoan vô biên của Ngài đã giải quyết nan đề ấy bằng cách cho Con của Ngài xuống thế làm người, đại diện cho toàn nhân loại, chịu đau khổ và chết, để đền tội thay cho cả loài người. Theo cách đó, sự công bằng và tình yêu của Ngài đều được thỏa mãn.

Ðức Giê-su - là Ngôi Hai, Con Thiên Chúa, cũng là Thiên Chúa trong bản tính nhân loại - đã đảm trách việc hòa giải giữa hai đòi hỏi trái ngược nhau của sự công bằng và tình yêu Thiên Chúa, và cũng là hòa giải giữa con người với Thiên Chúa. Vì thế, sứ mạng của Ðức Giê-su là phải làm sao cho con người thấy được công lý của Thiên Chúa phải được thực hiện nghiêm túc thế nào, đồng thời cũng biểu lộ cho con người thấy tình yêu của Thiên Chúa đối với con người bao la thế nào.

Chân lý, công lý và tình thương, đó là những thuộc tính hết sức quan trọng trong bản tính Thiên Chúa. Thiết tưởng người Ki-tô hữu - là người ý thức hơn ai hết con người là hình ảnh của Thiên Chúa - cần phải phản ánh và thể hiện ba thuộc tính ấy trong đời sống của mình. Ðức Giê-su đã nhấn mạnh sự quan trọng của ba thuộc tính ấy: "Những điều quan trọng nhất trong Lề Luật là công lý, tình thương và tính chân thật" ( Mt 23, 23 ).

3.   TÌNH YÊU CỦA THIÊN CHÚA ÐƯỠC BIỂU HIỆN NƠI ÐỨC GIÊ-SU

Thiên Chúa yêu thương con người, điều ấy đã được Thánh Kinh nói đến rất nhiều: "Anh em hãy xem Chúa Cha yêu chúng ta dường nào: Người yêu đến nỗi cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa mà thực sự chúng ta là con Thiên Chúa" ( 1 Ga 3, 1 ); "Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời" ( Ga 3, 16 ); "Tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta được biểu lộ như thế này: Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống" ( 1 Ga 4, 9 ); "Ðức Ki-tô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta" ( Rm 5, 8 ).

Tình yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại được thể hiện cụ thể qua tình yêu của Ðức Giê-su đối với con người: "Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy" ( Ga 15, 9 ); "Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng" ( Ga 13,1 ).

4.   HÃY THỂ HIỆN TÌNH YÊU CỦA THIÊN CHÚA RA CHO THA NHÂN

Ðức Giê-su đã chấp nhận đau khổ để con người được hạnh phúc, chấp nhận chết để con người được sống. Chính tình yêu đối với con người đã thúc đẩy Ngài làm điều ấy. Sự việc ấy cho thấy đau khổ của ta có thể biến thành hạnh phúc cho người khác, cái chết của ta có thể biến thành sự sống cho người khác. Nghĩa là ta có thể chấp nhận đau khổ để người mình yêu được hạnh phúc, chấp nhận chết để người mình yêu được sống. Vì thế, đau khổ và chết cho người mình yêu là cách tuyệt hảo nhất để biểu lộ và thể hiện tình yêu: "Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình" ( Ga 15, 13 ). Thiết tưởng người Ki-tô hữu cần sử dụng thường xuyên cách biểu lộ và thể hiện tình yêu tuyệt hảo này trong đời sống ( đáng lẽ phải ) đầy tràn yêu thương của mình.

Cũng như tình yêu của Chúa Cha đối với Ðức Giê-su là gương mẫu cho tình yêu của Ngài đối với nhân loại: "Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy" ( Ga 15, 9 ); thì Ngài rất mong tình yêu của Ngài đối với chúng ta cũng là gương mẫu để chúng ta yêu thương nhau: "Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em" ( Ga 15,12 ). Thánh Gio-an đã diễn tả ý tưởng trên như sau: "Nếu Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta như thế thì chúng ta cũng phải yêu thương nhau" ( 1 Ga 4,11 ); "Chúng ta hãy yêu thương nhau, vì Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước" ( 1 Ga 4, 19 ); "Ðức Ki-tô đã thí mạng vì chúng ta. Như vậy, cả chúng ta nữa, chúng ta cũng phải thí mạng vì anh em" ( 1 Ga 3, 16 ). Vậy, chúng ta hãy áp dụng tinh thần yêu thương và hy sinh cho người mình yêu, trước hết và đặc biệt cho những người gần gũi với chúng ta nhất: cha mẹ, vợ con, anh chị em, bạn bè... sau đó cho những người xa hơn, và cuối cùng cho cả những người ghét và làm hại chúng ta. "Anh em hãy mang gánh nặng cho nhau, như vậy là anh em chu toàn Luật Ðức Ki-tô" ( Gl 6, 2 ).

Tóm lại, hãy trở nên hiện thân cho Tình Yêu Thiên Chúa giữa tha nhân, giữa trần gian. Thiết tưởng đó là những điều thực tế mà trong Tuần Thánh này chúng ta phải quyết tâm thực hiện trong đời sống mình. Nếu không Tuần Thánh này cũng chỉ là một tuần vô bổ, trôi qua không dấu vết trong đời sống chúng ta.

Tôi nghe thấy tiếng Chúa nói với tôi:

"Con ơi, Cha yêu con, yêu con vô cùng. Cuộc khổ nạn và cái chết của Ðức Giê-su chính là bằng chứng mạnh nhất cho tình yêu của Cha. Cha mong mỏi con đáp lại tình yêu của Cha như một tình nhân mong được người mình yêu đáp trả lại bằng tình yêu. Cách đáp trả tình yêu mà Cha mong muốn nhất nơi con, chính là con ban trải yêu thương một cách thật quảng đại, thậm chí phung phí, cho những người sống chung quanh con, những người con thường gặp hằng ngày. Hãy trở nên hiện thân của tình yêu Cha giữa mọi người".

Gs. NGUYỄN CHÍNH KẾT

SUY NIỆM 3:

NHỮNG KHUÔN MẶT MÔN ÐỆ

Chúa Nhật Lễ Lá dẫn chúng ta vào Tuần Thánh với những ngày cực Thánh là Thứ Năm, Sáu, Bảy và Chúa Nhật Phục Sinh. Ðức Giê-su Ki-tô Thiên Chúa nhập thể làm người, Con Yêu Dấu của Chúa Cha đã bị kẻ thù - vì ghen ghét và hiểu lầm - đã bắt giữ, tra vấn, kết án và đóng đinh vào thập giá như một tên trọng tội. Người đã chết như một người thất bại. Nhưng Người đã sống lại vì chẳng những Người là Ðấng vô tội và bị giết oan mà còn vì là Người đã chết thay cho những người có tội, để mọi người được sống với Người và nhờ Người.

I. TÌM HIỂU LỜI CHÚA:

1. Bài đọc 1: Is 50, 4 - 7:

Ngôn sứ I-sai-a nói về sứ vụ mà Thiên Chúa giao cho ông và mô tả cách Thiên Chúa đối xứ rất thân thương, khiến ông hoàn toàn tin tưởng phó thác vào Chúa và chịu đựng mọi tệ bạc của người ta. I-sai-a là hình bóng của Ðức Giê-su vì những gì I-sai-a nói về mình thì cũng là những điều đã xẩy ra cho Ðức Giê-su trong cuộc Khổ Nạn Thập Giá: "Tôi không cưỡng lại cũng chẳng tháo lui. Tôi đã đưa lưng cho người ta đánh đòn, giơ má cho người ta giật râu. Tôi đã không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ... Tôi đã không hổ thẹn, tôi trơ mặt ra như đá. Tôi biết mình sẽ không phải thẹn thùng"

2. Bài đọc 2: Pl 2, 6 - 11:

Dưới tác động của Thánh Thần Thánh Phao-lô đã viết nên một bài ca tuyệt diệu về sự tự hạ tột cùng của Ðức Giê-su, Con Thiên Chúa làm người: "Vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết treo trên cây thập tự". Ðể thưởng công cho sự tự hạ ấy của Ðức Giê-su, Thiên Chúa Cha đã siêu tôn Người và đặt Người làm Chúa của muôn loài muôn vật trên trời dưới đất.

3. Bài Tin Mừng: Mc 14, 1 - 15, 47:

Ðây là bài Thương Khó trong Tin Mừng theo Thánh Mác-cô. Trước hết, Mác-cô dẫn chúng ta từ bữa ăn tại nhà ông Si-mon Cùi ở Bê-ta-ni-a đến bữa ăn cuối cùng của Ðức Giê-su ở Giê-ru-sa-lem. Bữa ăn tại nhà ông Si-mon Cùi có xảy ra chuyện một phụ nữ lấy dầu thơm xức trên đầu Người, loan báo thân xác Người sẽ được ướp và chôn cất trong ba bốn ngày tới. Bữa ăn cuối cùng của Ðức Giê-su với các môn đệ trong một phòng rộng rãi trên lầu với việc Ðức Giê-su lập Bí Tích Thánh Thể để Người ở lại mãi mãi với chúng ta và để chúng ta luôn có một chứng từ cụ thể, khả giác về Tình Yêu của Người. Cũng trong bữa ăn đó, Ðức Giê-su đã loan báo việc một trong số các môn đệ sẽ phản bội Người.

Trước đó Mác-cô đã cho chúng ta biết về âm mưu giết hại Người của giới lãnh đạo Do-thái và về sự phản bội của Giu-đa Ít-ca-ri-ốt. Giu-đa quyết tâm bán Thầy cho các thượng tế. Rồi Mác-cô đưa chúng ta đến núi Oâliu ở đó Ðức Giê-su đã phải trải qua những giây phút thật khủng khiếp trước viễn tượng cái chết cô đơn trên thập giá: "Tâm hồn Thầy buồn đến chết được". Người đã xin với Cha của Người: "Xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha". Sau đó là những diễn tiến dồn dập của Cuộc Thương Khó: quân lính xuất hiện với Giu-đa và bắt Ðức Giê-su, đem Người đến vị thượng tế: ở đây các vị thượng tế và Thượng Hội Ðồng Do-thái buộc tội Người để lên án tử hình. Vì không tìm ra chứng thật, họ đã phải "bịa ra" chứng giả nhưng không thuyết phục được ai, kể cả chính bản thân họ và Ðức Giê-su. Trước sự im lặng của Ðức Giê-su, vị thượng tế tìm mọi cách để Ðức Giê-su phải nói và Ðức Giê-su đã nói một cách dõng dạc chưa từng có: "Phải, tôi là Ðấng Ki-tô, Con của Ðấng Ðáng Chúc Tụng. Rồi các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Ðấng Toàn Năng và ngự giá mây trời mà đến"

Ðức Giê-su đã chết vì lời công bố mặc khải Sự Thật ấy. Ðiều trớ trêu là trước cảnh hùng vĩ của lời công bố ấy thì các giới lãnh đạo đền thờ và dân chúng lại khạc nhổ, bịt mặt, phỉ báng, chế nhạo Người. Còn môn đệ số một là Phê-rô thì chối Thầy "như đỉa phải vôi". Các thượng tế, kỳ mục và kinh sư đã tìm ra một nguyên cớ để giết hại Ðức Giê-su. Cớ đó là Người đã có lời lộng ngôn, đã phạm thượng tức xúc phạm đến Thiên Chúa. Nhưng họ không có quyền quyết định trên sự sống của Người, nên phải "vuốt mặt làm lành" chạy đến cầu cạnh với Phi-la-tô để tìm một đồng lõa, đề nghị một thỏa hiệp "hai bên cùng có lợi" để khử trừ Ðức Giê-su. Và Phi-la-tô - vì sợ mất chức mất quyền, đã hèn nhát biến mình thành đồng lõa, tòng phạm với giới lãnh đạo Do-thái. Phi-la-tô còn biến mình thành công cụ của giới lãnh đạo đền thờ Do-thái trong cái chết của Ðức Giê-su. Khi mọi chuyện đã được đạo diễn một cách ăn khớp với nhau, thì chỉ còn việc là đem Người Vô Tội ra hành hình, càng sớm càng tốt, để bảo đảm an ninh và tránh mọi rắc rối. Ðức Giê-su đã được giao cho lý hình và lính tráng đã điệu Người đến nơi hành quyết...

Trên đường cũng như chung quanh Núi Sọ, thay vì những lời cảm thông, tán tụng, biết ơn, ngưỡng mộ, giờ đây chỉ còn tiếng nhục mạ, chế diễu, nói xỏ nói xiên... Ðức Giê-su đã tắt thở trên thập giá sau khi không còn sức chịu đựng cực hình, trong nỗi cô đơn tột cùng: "Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con ?"

Một chi tiết đáng suy nghĩ: Mác-cô chỉ nhắc đến mấy người phụ nữ đứng xa xa mà nhìn, chứ không nói gì đến sự có mặt của các môn đệ khi Ðức Giê-su bị đóng đinh và treo trên cây thập giá. Chẳng những thế sau khi Ðức Giê-su đã tắt thở, người đứng ra xin xác Ðức Giê-su lại cũng không phải là một trong Mười Một Tông Ðồ mà là ông Giô-xép, người thành A-ri-ma-thê, thành viên có thế giá của Hội Ðồng Do-thái. Các môn đệ của Ðức Giê-su ở đâu lúc ấy ? Họ còn nhát gan hơn các môn đệ của Gio-an Tẩy Giả trước đó 3 năm, vì sau khi nghe tin Thầy bị chém đầu, các môn đệ của Gio-an đã dám đứng ra xin xác Thầy đem về chôn cất.

4. Một gợi ý suy niệm:

Từ Bài Thương Khó của Mác-cô, chúng ta có thể rút ra cho mình nhiều đề tài suy niệm. Riêng tôi, tôi chọn cho mình và đề nghị quí độc giả hãy chọn với tôi đề tài suy niệm này: Những khuôn mặt môn đệ chung quanh Ðức Giê-su trong cuộc Thương Khó của Người.

Khuôn mặt thứ nhất là vài thực khách cùng dùng bữa với Ðức Giê-su tại nhà ông Si-mon Cùi ở Bê-ta-ni-a: Họ tỏ ra khó chịu, bực tức và gắt gỏng với người phụ nữ đã đập vỡ bình bạch ngọc đựng dầu thơm cam tùng nguyên chất thứ đắt tiền và đổ dầu trên đầu Ðức Giê-su, vì họ cho rằng chị ta làm như thế là phung phí: "Phí dầu thơm như thế để làm gì ? Dầu đó có thể đem bán lấy trên ba trăm quan tiền mà bố thí cho người nghèo". Thật ra họ chẳng quan tâm đến người nghèo, chẳng quan tâm đến người phụ nữ làm chướng mắt họ, chẳng quan tâm đến Ðức Giê-su. Cái họ quan tâm là chính bản thân họ. Họ che dấu tâm địa bủn xỉn và ích kỷ của họ bằng những lời lẽ giả nhân giả nghĩa.

Trong khuôn mặt của mấy người này tôi có nhận ra khuôn mặt của tôi không ? Tôi có sống giả hình, ích kỷ, keo kiệt, khắt khe với tha nhân không ?

Khuôn mặt thứ hai là khuôn mặt của Giu-đa Ít-ca-ri-ốt. Giu-đa Ít-ca-ri-ốt là một trong Mười Hai môn đệ đã được Ðức Giê-su chọn làm Tông Ðồ và là người đã bán Thầy với số tiền còm. Có phải vì Giu-đa tham tiền không ? Có thể lắm chứ vì ai mà không tham tiền ! Nhưng cũng có thể là Giu-đa không tham tiền đến độ bán Thầy để chỉ lấy mấy chục đồng. Giải thích dễ chấp nhận và phù hợp với bối cảnh lịch sử và văn mạch Thánh Kinh nhất là Giu-đa tìm cách cưỡng bức Thầy dùng vũ lực và quyền năng để làm cho thiên hạ phải bái phục. Giu-đa muốn ép Ðức Giê-su chọn con đường Mê-si-a chính trị trong khi Nguời chọn con đường Mê-si-a đau khổ. Nghĩa là Giu-đa muốn dồn Ðức Giê-su vào chân tường để Người phải dùng tới quyền năng thần linh của Thiên Chúa cho thấy Người là ai, trong khi Ðức Giê-su lại chọn con đường tự hủy, tự hiến để mặc khải Sức Mạnh và Tình Yêu Cứu Ðộ của Thiên Chúa. Giu-đa bị cám dỗ y như chính Ðức Giê-su đã từng bị Xa-tan cám dỗ trong hoang địa: "Hãy biến hòn đá này thành bánh""Hãy gieo mình xuống" ( từ nóc Ðền Thờ ). Nhưng Ðức Giê-su đã gạt phắt cám dỗ ấy đi, còn Giu-đa thì đã sa chước nó.