

CHÚA NHẬT 4 B MÙA CHAY
TIN MỪNG: Ga 3,
14 - 21
Ðức Giê-su bảo: "Như ông Mô-sê đã
giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao
như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời. Thiên Chúa Yêu
thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi
phải chết, nhưng được sống muôn đời.
Quả vậy, Thiên Chúa sai
Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là
để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ. Ai tin vào Con của
Người, thì không bị lên án; nhưng kẻ không tin, thì bị lên án rồi, vì
đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa.
Và đây là bản án: ánh
sáng đã đến thế gian, nhưng người ta đã chuộng bóng tối hơn ánh
sáng,
vì các việc họ làm đều xấu xa. Quả thật, ai làm điều ác, thì ghét
ánh sáng và không đến cùng ánh sáng,
để các việc họ làm khỏi bị chê trách. Nhưng kẻ sống theo sự
thật,thì đến cùng ánh sáng, để thiên hạ thấy rõ: các việc của
người ấy đã được thực hiện trong Thiên Chúa."
SUY NIỆM 1:
ÐỂ THẾ GIAN ÐƯỠC CỨU ÐỘ
Các
bài Thánh Kinh của Phụng Vụ Chúa Nhật 4 Mùa Chay Năm B hôm nay đề
cập đến Tình yêu cứu độ của Thiên Chúa. Tình yêu Cứu độ ấy đã
khiến Thiên Chúa đành phải dùng hình phạt để trừng trị các thủ lãnh
Do-thái bất trung bất nghĩa cuối thời quân chủ. Cũng Tình Yêu Cứu Ðộ
ấy đã khiến Thiên Chúa Cha sai Con Một đến thế gian để thế gian -
nhờ Con của Người - mà được cứu độ. Chúng ta hãy mở rộng cõi lòng
đón nhận sứ điệp Lời Chúa và làm cho sứ điệp ấy thành hiện thực
trong các môi trường trong đó chúng ta đang sống.
1. Bài đọc 1: 2 Sb 36, 14 - 16 . 19 - 23:
Ðoạn
sách Sử Biên Niên quyển 2 kể lại chuyện các thủ lãnh của các tư
tế và dân chúng Ít-ra-en học theo mọi thói hư đốn của các dân ngoại
mà làm hoen ố Nhà của Ðức Chúa ở Giê-ru-sa-lem và sát hại các sứ
giả do Thiên Chúa sai đến để nhắc nhở họ. Thiên Chúa đành phải
dùng hình phạt để trừng trị và cảnh tỉnh họ, vì Thiên Chúa luôn yêu
thương dân của Người.
2. Bài đọc 2: Ep 2, 4 - 10:
Thánh Phao-lô khẳng định: Thiên Chúa giầu
lòng xót thương và rất mực yêu thương chúng ta nên dầu chúng ta đã
chết vì sa ngã, Người cũng đã cho chúng ta được cùng sống với Ðức
Ki-tô. Sở dĩ chúng ta được cứu là do ân sủng của Thiên Chúa và do
lòng tin của chúng ta chứ không phải do sức hay việc làm của chúng
ta.
3. Bài Tin Mừng: Ga 3, 14 - 21:
Là
một phần của cuộc trao đổi giữa Ðức Giê-su và ông Ni-cô-đê-mô.
Ông Ni-cô-đê-mô là một người thông thái trong dân Ít-ra-en và có
nhiều cảm tình với Ðức Giê-su. Nhưng ông còn nhút nhát và sợ dư
luận nên chỉ dám tìm đến gặp Ðức Giê-su ban đêm. Trong cuộc trao đổi
với ông, Ðức Giê-su đã "bật mí" nhiều điều rất thú vị và quan
trọng, như việc người ta phải được "tái sinh" trong Thần Khí để vào
Nước Trời và việc "Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con
Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống
muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian không
phải để lên án thế gian mà để thế gian nhờ Con của Người, mà được
cứu độ".
4. Sứ điệp của Lời Chúa:
"Thiên Chúa sai Con của Người đến
thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian nhờ
Con của Người, mà được cứu độ".
Ðón nhận Sứ điệp
Tình Yêu:
Công việc đầu tiên của các
Ki-tô hữu chúng ta là đón nhận sứ điệp cũng là mạc khải vô cùng
quan trọng về lý do và động lực ( nếu chúng ta có thể nói như vậy )
của việc Thiên Chúa Cha sai Con Một của Người là Ðức Giê-su đến thế
gian. Ðức Giê-su đến trần gian để con người được sống chứ không phải
để con người phải chết. Vì chưng Thiên Chúa chỉ có thể là Tình Yêu.
Mà Tình Yêu thì chỉ có thể cứu vớt chứ không thể kết án. Những ai
không đón nhận Tình Yêu là tự loại mình ra khỏi dòng thác của Tình
Yêu Tha Thứ và Cứu Vớt. Cũng như những ai không chịu để Ánh Sáng
Thiên Chúa soi dẫn là tự mình chọn sống trong tối tăm. Tâm tình xứng
hợp chúng ta phải có là cảm tạ, ngợi khen và biết ơn Thiên Chúa
Tình Yêu. Cảm tạ ngợi khen và biết ơn vì Thiên Chúa đã yêu thương
loài người bằng chính Tình Yêu Vô Hạn của Thiên Chúa.
Ðể diễn tả Tình Yêu ấy, Thiên
Chúa làm người đã lao động vất vả, vượt qua mọi thử thách cám dỗ,
kiên định trọng lập trường chọn Thánh Ý Chúa Cha, chọn con đường tự
hủy và chấp nhận hiến mình làm lễ tế toàn thiêu trên thập giá để
cho mọi người được làm hòa với Thiên Chúa và được ơn cứu độ. Cách
cảm tạ ngợi khen và biết ơn cân xứng nhất là chúng ta lấy tình yêu
nhỏ bé và bất toàn của chúng ta đáp lại Tình Yêu Vô Cùng Vô Biên
của Thiên Chúa. Trong thực tế cụ thể, điều này có nghĩa là chúng ta
phải nỗ lực hết sức mình để xa lánh tội lỗi, để vất bỏ những cách
suy nghĩ, hành động trái ngược với sự Thánh Thiện và lòng Yêu Thương
của Thiên Chúa.
Ðó chính là việc hoán cải (
metanoia ) mà Mùa Chay mời gọi chúng ta thực hiện. Trước hết là hoán
cải trong tư duy tức đổi mới tư duy. Kế đến là hoán cải trong thái
độ và hành động. Suy nghĩ, thái độ và hành động của người hoán cải
là suy nghĩ, thái độ, hành động của chính Ðức Giê-su Ki-tô.
Làm chứng cho Sứ
điệp Tình Yêu:
Còn
có một cách khác để chúng ta cảm tạ ngợi khen và biết ơn Thiên Chúa
Tình Yêu. Ðó là chúng ta tận dụng mọi hoàn cảnh, mọi cơ hội để làm
chứng cho Thiên Chúa Tình Yêu. Trách nhiệm làm chứng cho Thiên Chúa
Tình Yêu của Ki-tô hữu các nước nói chung và của Ki-tô hữu Việt Nam
nói riêng là một trách nhiệm vinh quang mà vô cùng nặng nề. Chúng
ta thử hỏi - trong lúc mà một số chính quyền Phương Tây, bất chấp sự
can ngăn của nhiều chính quyền khác và của chính Ðức Giáo Hoàng
Gio-an Phao-lô II và sự phản đối của các tầng lớp nhân dân các
nước, dùng vũ lực tấn công Irak - thì có bao nhiêu tín đồ Hồi giáo,
Phật giáo hay Ấn Giáo, có bao nhiêu người không biết Chúa Giê-su
Ki-tô cho rằng người Tin Lành, người Công Giáo là những chứng nhân
của Thiên Chúa Tình Yêu ?
Chúng ta cũng có quyền tự hỏi: trong
nước Việt Nam hiện nay có bao nhiêu người trong số 72 triệu người
không Công Giáo gặp được những chứng nhân sống động của Thiên Chúa
Tình Yêu ? Nói cách khác chúng ta thử hỏi có bao nhiêu trong số 8
triệu người Công Giáo Việt Nam thực sự là chứng nhân của Thiên
Chúa Tình Yêu ? Như thế có nghĩa là người đi Ðạo không chỉ giữ Ðạo
mà còn phải trưng bày Ðạo ra trước mặt mọi người. Cũng có nghĩa là
người đi Ðạo không được quyền hiểu lơ mơ về Ðạo, cũng như không có
quyền tin một đàng sống một nẻo.
Như
thế có nghĩa là làm chứng không chỉ bằng lời nói ( quá dễ và không
đủ sức thuyết phục người thời nay ) mà bằng việc làm, bằng cách
sống như Ðức Cha Gio-an Bao-ti-xi-ta Bùi Tuần, Giám Mục Long Xuyên đã
viết trong bài "Yêu Mến Thánh Giá": "Thời nay, tại Việt Nam này,
người ta tin vào các chứng nhân sống đạo hơn bất cứ sách báo, tổ
chức, lý thuyết nào. Chứng nhận sống đạo là những người có tâm
đạo giầu cảm thương đối với những người đau khổ tội lỗi, phản ánh
tình thương trên thánh giá của Chúa Giê-su".
Ðể
có được tâm đạo giầu cảm thương, các Ki-tô hữu Việt Nam hay thuộc
bất cứ quốc tịch nào phải biết học cùng Thầy Giê-su và phải nên
giống Thầy Giê-su. Nếu tất cả đồng bào của chúng ta có dịp gặp gỡ,
trao đổi với những người Công Giáo thực sự là những chứng nhân
sống đạo thì sớm muộn gì, bằng cách này hay bằng cách khác, họ sẽ
đón nhận Thiên Chúa Tình Yêu như chúng ta đã đón nhận Người trong
tâm hồn và trong cuộc sống của mình. Cách làm chứng cho Thiên Chúa
Tình Yêu vừa trình bày ở trên rất ăn khớp với lời nói của Ðức
Giê-su với ông Ni-cô-đê-mô: "Ðể ai tin vào Con của
Người..."
Lòng
tin là điều kiện để con người khỏi phải chết mà được sống đời đời.
Nhưng làm sao người ta có thể tin Con của Người là Ðức Giê-su Ki-tô
nếu như không bao giờ nghe nói đến Người ? hay chẳng bao giờ nhìn thấy
cách sống của những người đã sống lòng tin vào Người ? Vẫn một kết
luận: Ki-tô hữu là những người được Thiên Chúa sai đến để làm cho
anh em đồng bào tin vào Chúa Giê-su Ki-tô Ðấng Cứu Ðộ được Cha sai
đến trần gian để mọi người được sống và sống dồi dào ( x. Ga 10, 10
).
II. SỐNG LỜI CHÚA
Mỗi
ngày tôi tìm mọi cách để rao giảng Tin Mừng, làm chứng về Thiên
Chúa Tình Yêu và giúp người khác tin vào Thiên Chúa là Cha và vào
Ðức Giê-su Ki-tô là Con Một Thiên Chúa và đã được Người sai đến để
cứu độ mọi người.
Lạy
Thiên Chúa là Cha, chúng con cảm tạ, ngợi khen và biết ơn Cha vì Cha
đã sai Con Một Yêu Dấu của Cha là Ðức Giê-su Ki-tô đến thế gian để
cứu độ chúng con và mọi người.
Lạy
Chúa Giê-su, để cứu độ chúng con và mọi người, Chúa đã rao giảng
Tin Mừng Nước Trời, đã gọi và chọn các Tông Ðồ, đã lập Hội Thánh
và các Bí Tích, đã chết trên thập giá, đã ban Thánh Thần cho mọi tín
hữu, đã sai các Tông Ðồ và các Môn Ðệ đi khắp thế gian để làm cho
người ta tin nhận Chúa. Chúng con cũng đã được ơn gọi làm Môn Ðệ
của Chúa. Nhưng chúng con chưa hoàn thành công việc Chúa giao, vì
chúng con chưa sống chứng tá, chưa giúp được người khác tin nhận
Chúa. Xin Chúa thứ tha cho chúng con và ban Ơn hoán cải cho chúng con.
Lạy
Chúa Thánh Thần, xin Chúa ban cho chúng con 7 Ơn của Chúa để chúng con
có đủ sức mạnh và phương cách làm chứng về Thiên Chúa là Tình Yêu,
về Ðức Giê-su Ki-tô là Ðấng Cứu Ðộ, về Chúa Thánh Thần là Thần
Khí của Thiên Chúa Tình Yêu.
Gs. Giê-rô-ni-mô NGUYỄN VĂN NỘI
SUY NIỆM 2:
Nếu phân
biệt thế gian với thần thiêng, người ta dễ ngộ nhận tất cả những gì
là tục lụy, là thấp kém, là xấu xa, không đáng tôn thờ, trân
trọng, dễ bị gán ghép cho là tội lỗi và thế gian được gán cho là
một trong ba kẻ thù nguy hiểm nhất: ma quỷ, xác thịt và thế gian. Thế
gian xem ra gần gũi với con người nhất. Chính vì thế, người ta dễ lúng
túng khi phải trực diện với lời khẳng định của thánh Gio-an: "Thiên
Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của
Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời" ( Ga 3, 16 ).
Trần
gian hay thế gian vẫn là tạo vật quý hóa Thiên Chúa đã tạo dựng ra
nó. Cái thánh thiêng hay linh thiêng vẫn là một cái gì linh thánh,
cao siêu, vượt cái gì là tục hóa, là phàm trần, là xấu xa đê hèn.
Thiên Chúa yêu thương thế gian vì chính Thiên Chúa đã tạo dựng nên
nó, đã ấp ủ, đã nuôi dưỡng nó và như thế, Ngài luôn yêu thương nó
dù nó có bị gán cho ngôn từ gì đi nữa. Thế gian vẫn được phân chia
ra nhiều loại, nhiều giới. Người ta có thể hiểu được nếu có một
loại nào tội lỗi thì đó chỉ là một loại trong muôn loại, muôn loài
Thiên Chúa đã dựng nên.
Ngay
từ trang đầu tiên của sách Sáng Thế, Thiên Chúa đã tạo dựng nên
bầu trời, vũ trụ, cây cỏ, muôn loài trên trời dưới đất và cuối
cùng Ngài tạo dựng nên con người. Vì được tạo dựng, mọi loài, mọi
vật và con người đều được Chúa yêu thương ủ ấp, cho dẫu rằng con
người có phản nghịch Thiên Chúa hay giới tội lỗi nào đó có bội
phản Ngài, Ðức Ki-tô chưa chắc đã loại trừ hay lên án họ, Ngài đến
vì họ và cho họ: "Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Ngài đến thế
gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con
của Người, mà được cứu độ" ( Ga 3, 17 ).
Tôi
còn nhớ, khi tiếp xúc với người Dân Tộc Kơho, cái ấn tượng đập vào
đầu tôi là những người Dân Tộc trước kia thờ thần núi ( Yang Kơ ),
thần rừng ( Yang bơnơm ) và đủ loại thần khác. Tuy nhiên, khi cắt
nghĩa cho họ rằng người Dân Tộc cũng là con của Thiên Chúa, một Vị
Thần lớn hơn mọi vị thần, một Ðấng đã dựng nên mọi thần và dựng
nên cả loài người: "Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh
mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên
Chúa sáng tạo con người có nam có nữ" ( St 1, 27 ). Người Dân Tộc
Kơho đã hình dung ra một Ðấng lớn lao vĩ đại, có quyền năng tuyệt
đối, lớn hơn và có uy quyền hơn cả ông tổ của họ là Xơrơđen, con
của nữ thần mặt trời.
Cảm nghiệm như thế, người Kơho cảm thấy vững dạ
an tâm vì họ hiểu rằng chính vì yêu, vì giải thoát mà Ðức Ki-tô, Con
Thiên Chúa đã đến thế gian và cũng chính vì yêu, để bảo tồn công
trình cứu chuộc nhân loại mà Chúa đã sai các Môn Ðệ, sai mọi người,
sai Hội Thánh, đi khắp mọi nơi loan báo Tin Mừng ( Mc 16, 15 ). Ta
cũng nghiệm thấy rõ ràng ngay trong bữa Tiệc Ly, trong Lời Nguyện
Hiến Tế, Chúa Giê-su đã xin: "Không xin cha cất họ ra khỏi thế
gian, nhưng xin cha gìn giữ họ khỏi ác thần" ( Ga 17, 15 ).
Thế gian hay thế ngay vẫn là tạo thành của
Thiên Chúa. Tuy nhiên, ác thần hay ma quỷ mới bị lên án một cách
vĩnh viễn vì nó đối nghịch với sự sáng là Chúa Giê-su Ki-tô. Thiên
Chúa yêu thế gian có nghĩa là dù thế nào đi nữa Thiên Chúa vẫn
không đặt giới hạn, không loại trừ mà Thiên Chúa vẫn luôn yêu
thương và tìm cách cứu thoát.
Thiên
Chúa là Tình Yêu. Ðạo của Ngài thiết lập là Ðạo Tình Yêu. Chính vì
yêu, Thiên Chúa đã sai Con của Ngài đến thế gian, để ai tin vào con
của Ngài thì được cứu độ. Tin Mừng của thánh Gio-an trong đoạn Ga 3,
14 - 21 đã dùng chữ nhắc lên cao và con rắn đồng mà Mô-sê tuân
lệnh Chúa đã nâng cao trong sa mạc, ai nhìn lên con rắn đồng sẽ không
bị rắn cắn chết. Trong lớp Giáo Lý cho anh chị em tân tòng người Koho,
bài học hôm đó là: "Tại sao Chúa Giê-su Ki-tô lại bị treo lên
thập giá ?" Một cô gái Kơho đứng lên nói: "Thưa bap ( cha ),
Chúa yêu con người, muốn cho con người được hạnh phúc, nên hy sinh
chết trên thập giá để cho mọi người được vui tươi". Tôi gật đầu
tán thưởng, nhiều anh chị em Dân Tộc cũng vỗ tay tán thành. Xem ra anh
chị em Kơho sau khi được cắt nghĩa, được khai mở trí khôn, được loan báo
Tin Mừng, họ có một sự tin tưởng sâu sắc vào Thiên Chúa, Ðấng Cứu
Ðộ.
Một
hôm, đang đi vào một buôn làng xa nhà xứ hơn 20 cây số, một già
làng kể cho tôi một câu chuyện như sau: "...Anh chị em Dân Tộc
chúng tôi từ ngàn xưa đã tin vào các thần, đau ốm là do thần nổi
giận, muốn cho các thần nguôi ngoai cơn giận, gia đình có người đau
phải mời thầy cúng. Chúng tôi vẫn tin nhờ thầy cúng người đau mới
được khỏi bệnh. Ðau ốm hồi xưa không biết đến bác sĩ, y sĩ và thuốc
thang, nhưng đau đồng hóa với cơn giận của thần. Người Dân Tộc chúng
tôi lúc xưa khi đau ốm không biết đến thuốc thang mà chỉ biết chạy
tới thầy cúng tế, nên có lúc người đau ốm đã bị thiệt mạng rất
nhiều. Ðiều ấy nói lên sự mê tín dị đoan của chúng tôi, nhưng thực
sự chúng tôi lúc đó chưa hiểu".
Ngày
nay, khi anh chị em chúng tôi được học hỏi nơi các vị Thừa Sai, nơi
người Kinh và nơi những người văn minh, chúng tôi hiểu ra rằng đau
phải đi bệnh viện, đau phải tới bác sĩ để bác sĩ bắt mạch, kê toa
cho thuốc. Tôi được dịp nói thao thao bất tuyệt về bệnh, về khoa học,
về văn minh y học cho ông già làng và cắt nghĩa cho ông về niềm tin
nơi Ðấng Tạo Hóa, Ðấng ấy là ông Trời, là Thiên Chúa, là Ðấng tạo
dựng đầy yêu thương. Ðấng ấy đã tới thế gian vì yêu thương mọi
người, Ðấng ấy đến để cho chiên sống và sống dồi dào. Dưới cái
nhìn của Thánh Gio-an, để cho chiên sống và sống dồi dào, Thiên chúa
đã không tiếc bất cứ điều gì ngay đến Người Con Một duy nhất Ngài
cũng hy sinh ( bài đọc 2 ).
Ðức
Giê-su Ki-tô đã nói: "Khi nào Tôi được nâng lên cao khỏi đất,
Tôi sẽ kéo mọi người lên với Tôi", hoặc: "Không có tình yêu
nào cao vời bằng tình yêu của người hiến mạng vì người mình yêu mến"
( Ga 15, 13 ). Cái chết trên thập giá là bằng chứng hùng hồn của
Chúa Giê-su Ki-tô đã vì yêu mà hy sinh tất cả. Ðó là tình yêu tự
hiến. Chết mới được nói lên lời. Thập giá luôn là thách đố cho
mọi người. Ðạo Thiên Chúa là Ðạo Tình Yêu, Ðạo Thập Giá. Nhưng Ðạo
Thiên Chúa không có nghĩa là đi tìm thập giá để vác cho nặng mà là
vác thập giá mỗi ngày mà theo Chúa Ki-tô.
Hoán cải trong Mùa Chay cũng có nghĩa là nhìn lên
thập giá như dấu chỉ của lòng thương xót vô biên của Chúa. Ðạo
Ki-tô Giáo không có nghĩa là đạo của một Thiên Chúa hay phạt, nhưng
là đạo của Thiên Chúa tình thương. Ðúng như người Dân Tộc vẫn nói: "Cái
Ðạo Tình Thương là cái đạo no cái bụng, chứ không no cái tai".
Người
Kơho vẫn giản dị, vẫn chân chất núi rừng vì họ đơn sơ chất phác, tin
rằng Thiên Chúa tình thương là Thiên Chúa yêu họ, kính trọng họ như
cha mẹ họ mến yêu, đùm bọc, săn sóc họ. Họ tin đời này dù có
phải vất vả, dù có phải vác thập giá như Chúa Giê-su nói, nhưng họ
được yêu thương, không bị phân biệt và được đối xử đồng đều, như
thế họ sẽ được chính ánh sáng là Ðức Giê-su Ki-tô chiếu tỏa và soi
đường.
Người Kơho cũng như mọi người đều được
mời gọi sống yêu thương, được mời gọi cộng tác vào công trình cứu
chuộc của Chúa vì tất cả con người trên thế gian được Thiên Chúa
tạo thành giống hình ảnh của Ngài, giống hình ảnh của Thiên Chúa,
con người mặc lấy Ðức Ki-tô Phục Sinh để nơi chính họ thắp sáng lên,
làm đẹp thế gian và làm cho thế gian tràn ngập vinh quang của Ðấng
đã kinh qua cái chết để khải hoàn vinh thắng.
Lạy
Chúa Giê-su Ki-tô, xin cho tất cả chúng con được yêu mến Thập Giá
của Chúa vì muốn vinh quang chúng con phải ngang qua sự đau khổ của
Thập Giá Chúa.
Lm.
Giu-se NGUYỄN HƯNG LỠI, DCCT, Giáo Ðiểm Fyan, Giáo Phận Ðà Lạt
SUY NIỆM 3:
LÒNG YÊU THƯƠNG THA THỨ CỦA THIÊN
CHÚA
Tại một Nhà Thờ bên
Tây-ban-nha có một tượng Thánh Giá rất đặc biệt: Chúa Giê-su chỉ
chịu đóng đinh có một tay trái và hai chân, tay phải rời khỏi lỗ đinh
và đưa ra phía trước trong tư thế như đang ban phép lành.
Chuyện
kể rằng, một lần, tại Nhà Thờ này có một tội nhân đến xưng tội.
Ðối với một tội nhân có quá nhiều tội nặng như anh ta, vị Linh Mục
rất nghiêm khắc và ngăm đe nhiều điều. Nhưng chứng nào vẫn tật đó,
ra khỏi Tòa Giải Tội ít lâu, hối nhân lại tiếp tục sa ngã. Rất
nhiều lần như thế. Cuối cùng, vị Linh Mục đành răn đe: "Tôi không
muốn anh vấp lại những tội như thế nữa. Ðây là lần cuối cùng tôi
tha tội cho anh". Hối nhân ra khỏi tòa giải tội mà lòng trĩu nặng
và đau khổ. Ðược vài tháng sau, anh ta lại đến xưng tội, và xưng cũng
cùng những tội nặng y như những lần trước. Vị Linh Mục dứt khoát: "Anh
đừng có đùa với Chúa. Tôi không tha !"
Thật
lạ lùng. Ngay lập tức, vị Linh Mục cùng hối nhân đều nghe có tiếng
thì thầm phía bên trên. Từ cây Thánh Giá, bàn tay phải của Chúa
Giê-su được rút ra khỏi lổ đinh và ban phép lành cho hối nhân. Vị
Linh Mục nghe được tiếng thì thầm ấy nói với chính mình: "Ta là
người đổ máu ra cho người này chứ không phải con".
Kể
từ đó, bàn tay phải của Chúa Giê-su không gắn vào Thánh Giá nữa,
nhưng vẫn giữ tư thế đang ban phép lành, như không ngừng mời gọi: "Hãy
trở về với Ta, các ngươi sẽ được tha thứ".
Lòng yêu thương tha thứ của Thiên Chúa
lớn lắm, mạnh lắm. Có lẽ, nếu có so sánh với trời cao biển rộng
vẫn cứ còn khập khiển. Lòng tha thứ của Thiên Chúa lớn cho đến
mức, tội lỗi đã quá sức chịu đựng của lòng người, Thiên Chúa vẫn
một lòng tha thứ. Dẫu cho mọi người rất kinh nghiệm về nỗi
yếu đuối của bản thân mình, nhưng vẫn khó tha thứ cho anh chị em, thì
Thiên Chúa không mảy may vướng một lỗi lầm nào, lại rất dễ dàng
thứ tha.
Ðọc
bài Tin Mừng Chúa Nhật thứ 4 Mùa Chay, ngay câu đầu tiên, câu nói
của Chúa Giê-su: "Như Môisen đã giương cao con rắn ở sa
mạc thế nào, con người cũng sẽ giương cao như vậy", tôi
bỗng nhớ tới câu chuyện cảm động bên trên, để càng cảm nhận rất
nhiều lần rằng: Thiên Chúa là Chúa của tình yêu. Tha thứ là gương
mặt chói ngời của tình yêu Thiên Chúa. Bởi tôi nhận ra trong câu
nói của Chúa Giê-su bộc lộ cả một nỗi lòng khoan dung tha thứ của
Thiên Chúa.
Vậy
câu nói của Chúa Giê-su: "Như Mô-sê đã giương cao con rắn ở sa
mạc thế nào, con người cũng sẽ giương cao như vậy", có liên quan thế
nào với tình yêu tha thứ của Thiên Chúa ?
Chắc anh chị
em còn nhớ câu chuyện con rắn đồng trong sa mạc ? Sau khi xuất Ai-cập,
bốn mươi năm ròng rã trong hoang địa, dân Ít-ra-en gặp mọi thử thách.
Họ oán trách Chúa đã để họ lầm than. Một lần cơn thịnh nộ của Chúa
đã để cho rắn độc cắn chết nhiều người. Dân Chúa quá sức khiếp
sợ. Họ nhìn nhận tội lỗi của mình, và Chúa đã đoái thương nỗi khốn
khổ của họ. Ngài dạy ông Mô-sê hãy làm một con rắn bằng đồng,
treo lên cây để bất cứ ai bị rắn cắn, nếu nhìn lên con rắn đồng, sẽ
được cứu. Như vậy, khi con rắn đồng được giương lên, thì ngay chính lúc
đó, lòng tha thứ của Thiên Chúa lại tỏa sáng và trao ban. Từ nay
Thiên Chúa sẽ cứu sống dân, những kẻ đã từng oán trách Ngài.
Hình ảnh con
rắn đồng đó, là biểu trưng của Ðấng Cứu Chuộc. Cũng như con rắn
đồng được giương cao, Chúa Ki-tô sẽ giương cao như vậy. Nếu con rắn
đồng nói lên lòng tha thứ, thì Chúa Ki-tô được giương cao, chính là
lòng tha thứ của Thiên Chúa đạt đến tuyệt đối, chiếu sáng ngời
ngời và lan tỏa đến bất cứ người nào đã từng được sinh làm người
trong cuộc trần ai. Chúa giương cao, nghĩa là lòng tha thứ của Thiên
Chúa được gương cao cho cả nhân loại nhìn vào mà học lấy, mà tha thứ
cho nhau. Lòng tha thứ của Thiên Chúa mạnh lắm, mạnh đến nỗi, Thiên
Chúa như ném chính Người Con duy nhất và yêu quý nhất của mình cho
trần gian để thực hiện hiện lòng tha thứ đối với chính trần gian vô
vàn lần xúc phạm Thiên Chúa.
Trong
mạch văn của bài Tin Mừng, Thánh Gio-an còn ghi thêm chính lời Chúa
Giê-su: "Thiên Chúa không sai Con của Ngài đến luận phạt trần gian,
nhưng để trần gian nhờ Con của Ngài mà được cứu độ". Thiên Chúa luôn ở về phía
chúng ta để ra tay cứu chứ không phải phạt.
Mùa
Chay là mùa của lòng yêu thương tha thứ. Bởi thế, việc ăn chay trong
Mùa Chay, trước hết phải là xóa bỏ hận thù và tha thứ. Nhưng để có
tha thứ, cần đến sự hòa giải. Anh chị em mất lòng nhau, anh chị em có
hố sâu ngăn cách bởi hận thù, tinh thần chay tịnh đòi anh chị em phải
lấy lại lòng nhau, phải lấp đầy những ngăn cách để những gì thuộc
về thù hận bị chôn xuống, những gì là trao ban, là yêu thương sẽ
bùng lên, vương mạnh. Anh chị em và tôi hãy nhớ rõ một điều: Làm sao
có thể tha thứ nếu không bao giờ muốn hòa giải; làm sao có thể
nhận được ơn tha thứ nếu không biết tha thứ.
Không biết câu chuyện về cánh tay Chúa
Giê-su trên Thánh Giá ban phép lành để tuôn đổ ơn tha thứ cho tội
nhân, thực hư thế nào, nhưng lòng yêu thương tha thứ của Thiên Chúa
ngàn đời đời vẫn thế: bền vững và cao ngất. Câu chuyện có thể
không có thật, nhưng lòng tha thứ của Thiên Chúa mãi mãi vẫn thật.
Vì thế dẫu cho không có thật, nó vẫn đáng quý, vì nó phản ánh một
sự thật rất thật: Lòng Thiên Chúa yêu thương tha thứ. Câu chuyện
càng đáng quý khi nó giúp ta ghi lòng để học lấy lòng tha thứ của
Thiên Chúa mà tha thứ cho anh chị em.
Thiên
Chúa đã không dạy bài học tha thứ suông, nhưng đã dạy bài học tha
thứ bằng chính mạng sống của Chúa Giê-su. Nếu ngày xưa, con rắn đồng
trong sa mạc được giương lên, thì hôm nay chính Chúa Giê-su được giương
lên. Mãi mãi chúng ta biết ơn Chúa Giê-su và khắc sâu lời Người: "Như Mô-sê đã giương cao con rắn ở sa
mạc thế nào, Con Người cũng sẽ giương cao như vậy".
CẦU NGUYỆN:
Lời cầu nguyện dưới đây được giáo sư
Trần Duy Nhiên viết trong một dịp đi tĩnh tâm, có một dì phước đã đưa
cho tác giả mượn một cây Thập Giá, nhưng đôi tay Chúa Giê-su thì lại
bị gãy không biết từ bao giờ...
Con
yêu dấu, hãy nhìn lên thập giá,
Con
thấy không, Thầy đã gãy đôi tay !
Con
muốn chăng: làm chi thể của Thầy
Ðể thay thế đ