SỐ ÐẶC BIỆT: LỄ KÍNH THÁNH GIU-SE
TIN MỪNG: Lc 2, 41 - 51a
Hằng năm, cha
mẹ Ðức Giê-su trẩy hội đền Giê-ru-sa-lem mừng Lễ Vượt Qua. Khi Người
được mười hai tuổi, cả gia đình cùng lên đền, theo tập tục ngày lễ.
Xong kỳ lễ, hai ông bà trở về, còn cậu bé Giê-su thì ở lại
Giê-ru-sa-lem, mà cha mẹ chẳng hay biết. Ông bà cứ tưởng là cậu về
chung với đoàn lữ hành, nên sau một ngày đường, mới đi tìm kiếm giữa
đám bà con và người quen thuộc. Không thấy con đâu, hai ông bà trở
lại Giê-ru-sa-lem mà tìm.
Sau ba ngày,
hai ông bà mới tìm thấy con trong Ðền Thờ, đang ngồi giữa các thầy
dạy, vừa nghe họ, vừa đặt câu hỏi. Ai nghe câu nói cũng ngạc nhiên
về trí thông minh và những lời đáp của cậu. Khi thấy con, hai ông bà
sửng sốt, và mẹ Người nói với Người: "Con ơi, sao con lại xử
với cha mẹ như vậy ? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực
lòng tìm con !" Người đáp: "Sao cha mẹ lại tìm con ? Cha
mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao ?"
Nhưng ông bà
không hiểu lời Người vừa nói. Sau đó, Người đi xuống cùng với cha
mẹ, trở về Na-da-rét và hằng vâng phục các ngài.
SUY NIỆM 1:
Dừng lại khía cạnh lao động để nói về
Thánh Giu-se Người Công Chính, tôi muốn cùng mọi người trong đó có anh
chị em Dân tộc K'Hor chiêm
ngưỡng một người cha, một người gia trưởng đầy lạ lùng, nhưng khiêm
tốn và im lặng trầm lắng. Thánh Giu-se được Giáo Hội ca tụng là
người quản gia trung tín và khôn ngoan, Chúa đã đặt lên coi sóc gia
đình Chúa ( Lc 12, 42 ).
Tìm về nguồn
gốc, người K'Hor có thần thoại
Xơ-rơ-đen. Ðây là ông tổ của người K'Hor. Xơrơđen thuộc dòng dõi con cháu của các nữ thần mặt
trời. Ðây là nguồn gốc có tính thần kỳ của những cư dân Nam Á.
Dòng tộc của người K'Hor có
khác biệt với người Việt: Con Rồng Cháu Tiên. Người K'Hor trước kia thường thờ nhiều thần: thần
núi, thần đá, thần sông, thần suối, thần cây, thần rơmơs ( thuồng
luồng) v.v... Sau những năm phục vụ người Dân Tộc K'Hor ở Fyan và tìm tòi học hỏi, một hôm có
một già làng đã kể cho tôi câu chuyện, một câu chuuện có tính thần
thoại nhưng nói lên niềm tin và cái tinh túy của người K'Hor:
"Trước kia,
nghĩa là đã từ lâu lắm (
bơh kut bơh ku, bơh yu bơh yău ), các già làng, tổ tiên ( pàng yău )
của người K'Hor đã muốn
chọn một ngọn núi ở Phú Mỹ, Fyan ( vì họ cho là trung tâm ) để cúng tế trời đất, cúng
tế các thần ( yang ). Người K'Hor tổ tiên ( pàng
yău ) quan niệm trời giống như một cái nong lớn ( vũ trụ ). Người
K'Hor cho mình là khôn
ngoan, nên coi mình là cái rún của vũ trụ và cái núi chọn để cúng tế
tượng trưng cho cái rún của trời. Sau này, các tộc trưởng, các già
làng đã chọn ngọn núi Lăng Biăng ở Ðàlạt làm nơi cúng tế, làm nơi
giao hòa trời đất. Ðó là cái rún của người K'Hor".
Qua câu chuyện
này làm ta suy nghĩ tới cái tinh túy, cái rún của Ki-tô Giáo: Khi rao
giảng Tin Mừng cho người Dân Tộc, đặc biệt là người K'Hor, các vị Thừa Sai đã đưa họ về nguồn
gốc của vũ trụ. Ki-tô Giáo có Thiên Chúa Ba Ngôi ( Bàp yang pe hê )
và Chúa Giê-su ( Yang Jesus ) là Ngôi Hai Nhập Thể đã có một người
cha và một người mẹ như mọi người ở trần gian. Ði từ hình thức rất
đơn giản và thông thường như vậy, người Dân Tộc K'Hor đã biết cha của Chúa Giê-su là Thánh
Giu-se và mẹ là Ðức Ma-ri-a.
Thánh
Giu-se theo Kinh Thánh sinh tại Na-da-rét, một thôn làng nhỏ bé và
nghèo nàn. Ðiều này quả thực rất phù hợp với người Dân Tộc K'Hor vì
hầu hết họ xuất thân từ các bản làng nằm trong rừng, nằm trong
vùng sâu vùng xa. Cuộc đời của họ gắn bó với thiên nhiên, gắn bó
với núi, rừng, suối nước, cây, cỏ v.v... Ðời sống của người Dân
Tộc thật là đơn giản, bình dị và chân chất núi rừng, hoang dã. Thánh
Giu-se thuộc hoàng tộc Ða-vít, nhưng vì gia cảnh nhiều đời sa sút, nên
ngài sống trong cảnh nghèo, làm nghề lao động, làm thợ mộc để sinh
sống và nuôi gia đình Na-da-rét.
Hoàn
cảnh của Thánh Giu-se, mẹ Ma-ri-a và Chúa Giê-su rất gần gũi với anh
chị em Dân Tộc K'Hor vì hầu hết mọi gia đình người Dân Tộc
đều sống bằng nghề trồng rẫy, trồng nương, sau này làm nghề lúa
nước và trồng cây công nghiệp. Thánh Giu-se làm nghề lao động, một
nghề phổ thông của hầu hết con người. Trước mắt thế gian, Thánh
Giu-se chỉ là một con người lao động, đến nỗi khi thấy Chúa Giê-su rao
giảng, những người đồng hương đã nói một cách rất tự nhiên, nhưng
đầy mỉa mai: "Ông ấy lại không phải là con bác thợ mộc sao ?"
( Mt 13, 55 ) và khi Chúa Giê-su làm nghề thợ mộc, nghề của Thánh
Giu-se, cha Người hì họ lại khinh chê, chế diễu không thương tiếc: "Ông
ấy không phải là bác thợ mộc đó ư ?" ( Mc 6, 3 ).
Nhưng,
Thiên Chúa, như thánh Phao-lô viết: "Sự điên rồ nơi Thiên Chúa thì
khôn ngoan hơn loài người" ( 1 Cr 1, 25 ), Người có đường lối riêng
của Người mà thế gian vô phương hiểu thấu. Thiên Chúa đã dùng Thánh
Giu-se với công việc lao động để thánh hoá giá trị của công ăn việc
làm. Thánh Giu-se đã cho thấy vẻ đẹp của lao công, của những lo âu,
vất vả, của mồ hôi mới có miếng cơm manh áo và như thế công việc
dù tay chân hay trí thức đều góp phần vào việc kiến tạo một thế
giới mới, một trời mới, đất mới, góp tay vào Công Trình Cứu độ của
Thiên Chúa.
Và người Dân
Tộc đã được cắt nghĩa họ có dòng dõi còn cao, còn quý hơn cả thần
mặt trời nữa, vì họ có một Cha trên Trời, Người là Thiên Chúa yêu
thương con người và yêu thương đến sai con một của mình là Ðức Giê-su
Ki-tô đến trần gian, mặc xác phàm trong lòng Ðức Trinh Nữ Ma-ri-a bởi
phép Chúa Thánh Thần và như mọi con người ở trần gian, Chúa Giê-su
đã có một người cha là Thánh Giu-se. Ðược học Giáo Lý, được các vị
Thừa Sai và nhiều người hướng dẫn, khai mở, người Dân Tộc K'Hor đã rất mến yêu cội nguồn của mình là
Thiên Chúa Ba Ngôi, yêu kính trọng Thánh Giu-se và Mẹ Ma-ri-a. Ðó là
cái duyên, một cái duyên xem ra bình thường, nhưng cũng rất lạ lùng
và kỳ diệu vì biết được cha mẹ của Chúa Giê-su, người Dân Tộc đã
hết mình tôn kính và kêu cầu khấn nguyện với Thánh Giu-se và Mẹ
Ma-ri-a.
Thánh Tê-rê-xa thành Avila đã viết: "Tôi thấy không lần
nào xin sự gì cùng Thánh Giu-se mà không được như ý. Dường như Thiên
Chúa ban ơn cho các Thánh giúp ta việc này việc nọ nhưng kinh nghiệm
cho tôi biết Thánh Giu-se giúp chúng ta trong mọi trường hợp. Tôi lấy
Danh Chúa mà xin những ai không tin lời tôi hãy thử mà xem".
Tôi còn nhớ
trong một lớp Giáo Lý cho người Dân Tộc, bài hôm hôm đó được trình
bầy như sau: Chúa Giê-su là Chúa nhưng để làm người, Người đã có
mẹ, có cha. Một em Dân tộc hỏi tôi: "Thưa Cha, làm sao Chúa Giê-su
là Thiên Chúa, dựng nên trời đất, vũ trụ, con người mà lại có cha
có mẹ".
Tôi ngạc
nhiên vì câu hỏi hết sức thông minh ấy, tôi nói với em và cả lớp
rằng sở dĩ Chúa là Thiên Chúa nhưng lại có mẹ có cha vì Người chấp
nhận làm người, mặc xác phàm làm người, nên phải có mẹ có cha,
nếu Người tự trời rơi xuống hoặc tự dưới đất chui lên thì con người
sẽ khó gần gũi Người được. Người làm người, có mẹ có cha để con
người dễ dàng gần gũi và tôi nói tiếp Chúa Giê-su có mẹ là Ma-ri-a,
làm nội trợ, có cha là Giu-se làm nghề thợ mộc, làm nghề lao động.
Như thế, mọi người dễ biết Người, dễ tới với Người như con cũng có
cha mẹ sống trong bản làng, nên ai trong bản làng thấy con, cũng biết
tên cha mẹ của con. Em bé Dân Tộc và cả lớp vỗ tay tán thưởng...
Thánh Giu-se quả thực đã sống trọn vẹn Tin Mừng, đã giữ và
đã sống Lời Chúa cách sâu xa, tuyệt đối. ngài là cha nuôi Ðức
Giê-su Ki-tô, nhưng thực tế Chúa Giê-su coi ngài như chính cha của mình
và Thánh Giu-se có một chỗ đứng rất cao vời trong Lịch Sử Cứu Ðộ,
trong gia đình Na-da-rét. Trong những năm tháng sống với Chúa Giê-su
và mẹ Ma-ri-a tại Na-da-rét, Thánh Giu-se đã không được Thánh Sử nào
ghi lại một lời vì tất cả các lời của Thánh Giu-se đều bình thường,
đều có giá trị, sách vở ghi chép sẽ không có chỗ để ghi lại.
Tuy nhiên,
Thánh Giu-se luôn có một tấm lòng như Ma-ri-a "ghi nhớ và suy đi
nghĩ lại trong lòng". Thánh Giu-se đã được nhiều người biết tới,
chạy đến kêu cầu, khẩn xin. "Hãy tới với Giu-se". Anh chị em
Dân Tộc đã được biết Thánh Giu-se rất nhiều vì tất cả các Nhà Thờ,
Nhà Nguyện, Ðiểm Ðọc Kinh do các cha, các thầy Dòng Chúa Cứu Thế
phụ trách đều có trưng ảnh Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp và Thánh Giu-se.
Các cha các thầy cũng luôn nhắc nhớ cho anh chị em Dân Tộc biết về
vai trò, chỗ đứng của Thánh Giu-se và Ðức Mẹ trong Lịch Sử Cứu Rỗi,
nhờ đó họ có lòng sùng kính rất đặc biệt đối với Thánh Giu-se và
Ðức Mẹ.
Nơi tôi phụ
trách, có một số Khu Giáo trong tháng 3 kính Thánh Giu-se, giáo dân
Kinh cũng như Dân Tộc cứ mỗi tối luân phiên đọc kinh từng nhà để
kính Thánh Giu-se. Lòng sùng kính ấy còn được biểu lộ khi các anh chị
em Dân Tộc thường hái hoa rừng tiến dâng Thánh Cả Giu-se trên bàn
thờ gia đình, trên chỗ có ảnh tượng kính Thánh Giu-se.
Tôi còn nhớ,
một lần nọ, trong lớp Giáo Lý Tân Tòng cho người K'Hor, tôi đã kể cho họ nghe câu chuyện con
chồn hoang được thuần hóa trong tác phẩm "Hoàng Tử Nhỏ" ( Le Petit
Prince ) của văn hào Pháp Saint-Exupéry, tôi nói với họ rằng: "Con
chồn hoang được bắt từ rừng về, được huấn luyện, làm cho nó quen
với con người, được thuần hóa, hoàng tử nhỏ rất thích nó và mến
nó. Về phía chúng ta, chúng ta còn hơn con chồn hoang gấp bội vì khi
biết Chúa, chúng ta được Chúa, được mẹ của Chúa là Ma-ri-a và cha
của Chúa là Thánh Giu-se mến chuộng, yêu quý và giữ gìn, vì thế
chúng ta phải biết tôn kính các Ðấng..." Thế là tất cả lớp vui
vẻ, tán thành. Tôi còn cắt nghĩa cho người Dân Tộc hiểu rằng:
"Trên Nước Trời bây giờ và ngay khi Thánh Giu-se còn sống ở trần
gian, ngài có quyền thế, ngài truyền lệnh hơn là van xin, vậy anh chị
em hãy mau chạy tới với Thánh Cả Giu-se, anh chị em sẽ được toại
nguyện, hài lòng..."
"Lạy Chúa, Chúa đã giao phó Ðức Giê-su cho Thánh
Cả Giu-se, và thánh nhân đã trung thành gìn giữ trong giai đoạn đầu
của công trình cứu độ. Xin nhận lời thánh nhân cầu thay nguyện giúp,
cho Giáo Hội biết luôn cộng tác với Ðức Giê-su, để hoàn tất công
trình Người đã khởi đầu" ( Lời
Nguyện Nhập Lễ, Lễ Thánh Giu-se ).
Lm. Giu-se NGUYỄN
HƯNG LỠI, DCCT, Giáo Ðiểm Fyan, Giáo Phận Ðà Lạt
SUY NIỆM 2:
THÁNH GIU-SE - NGƯỜI CÔNG CHÍNH
"Ông Giu-se, bạn bà là Người
công chính và không muốn làm ố danh bà, nên đã định bỏ bà cách kín
đáo" ( Mt 1, 19 ). Ðây là câu chuyện
duy nhất trong Tân Ước diễn tả trực tiếp về con người của vị Thánh
mà toàn thể Giáo Hội mừng kính hôm nay: Thánh Giu-se, bạn Ðức Trinh
Nữ Ma-ri-a, bổn mạng của Giáo Hội Việt Nam, và cũng là bổn mạng
của mỗi cộng đoàn, mỗi gia đình chúng ta.
Ðược gọi là "công chính", theo ý nghĩa
của Kinh Thánh, là được Thiên Chúa cho thông dự vào chính sự công
chính, sự thánh thiện của Người. Ở đây, Thánh Giu-se là người không
những luôn ngay thẳng chân chính trước mặt Thiên Chúa, mà còn trung
thành tận tụy chu toàn mọi bổn phận của một người chồng và một
người cha trong cuộc sống gia đình và xã hội. Ngài được Thiên Chúa
công chính hóa và yêu thương cách đặc biệt, vì thật sự Ngài xứng
đáng được như thế.
Lần giở lại những trang Tân Ước có liên quan đến
Thánh Giu-se, chúng ta có thể khám phá và học hỏi những đức tính
nổi bật làm cho Ngài trở nên một con người công chính vĩ đại.
Trước tiên, là đức tính hoàn toàn Vâng Phục
Thánh Ý Chúa. Kinh Thánh thuật lại việc thiên thần thông báo cho
Ngài biết Ý Chúa, nhờ vậy, Ngài đã bỏ ý định ly dị Ðức Ma-ri-a cách
kín đáo ( Mt 1, 19 ). Ngược lại, Ngài đã trỗi dậy ngay trong đêm khuya
để đem Con Trẻ và Mẹ Người trốn sang Ai-cập ( Mt 2, 14 ), cũng như sẽ lại
vâng theo Ý Chúa mà đem Con Trẻ và Mẹ Người trở về Pa-lét-tin ( Mt
2, 21 ), đến sinh sống tại làng Na-da-rét, âm thầm và ân cần lấy
sức lao động nuôi sống cả gia đình qua những tháng năm dài sau đó.
Tiếp đến, Tân Ước thuật lại câu chuyện Thánh
Giu-se thất lạc và tìm gặp lại Ðức Giê-su trong Ðền Thánh ( Mt 1, 44 -
49 ). Qua đó, chúng ta khám phá ra một đặc tính khác của Ngài, hay
nói đúng hơn, một đức tính mà các Thánh viết Phúc Âm chú ý nhấn
mạnh nơi Thánh Giu-se: Không một lời nói nào của Ngài được ghi lại
trong Tân Ước. Thế nhưng, chính Ngài lại là một nhân chứng hùng hồn
của Ðức Vâng Lời và Niềm Tin trong hành động, những hành động xem ra
vô lý và đầy nguy hiểm, thì Ngài đã khiêm tốn, can đảm và kiên trì
để thực hiện hoàn toàn theo đúng Thánh Ý của Thiên Chúa.
Quả thật, với những đức tính như thế, Thánh Giu-se
xứng đáng là chủ gia đình của Na-da-rét, một gia đình thánh thiện, vì
gồm ba tâm hồn luôn sẵn sàng lắng nghe và thực hành những gì Thiên
Chúa muốn. Thiết nghĩ, chỉ thế thôi, Thánh Giu-se đúng là một gương
mẫu sống động và cụ thể cho mỗi người chúng ta trong gia đình và trong
cộng đoàn.
Kinh Thánh Cựu Ước sách Sáng Thế có kể chuyện
Tổ Phụ Giu-se trong hoàn cảnh đói khổ mất mùa của toàn dân, nhà vua
Ai-cập đã bảo với thần dân của mình: "Hãy đến với ông Giu-se,
người dạy sao, hãy làm như vậy". Và từ đó, "hằng ngày ông
Giu-se đã mở công lẫm để phân phát thực phẩm cho dân" ( St 41, 35
- 36 ). Hôm nay, chúng ta cũng nhìn nhận hình ảnh Tổ Phụ ấy nơi Thánh
Cả Giu-se để đến với Ngài. Thiên Chúa như thể muốn nhắc bảo chúng
ta: "Hãy đến với Thánh Giu-se, Người dạy sao hãy làm như vậy".
Thánh
Tê-rê-xa thành Avila đã tâm sự: "Chưa bao giờ tôi cầu xin sự gì
cùng Thánh Cả Giu-se mà không được như ý. Kỳ diệu thay, những ơn đặc
biệt mà Thiên Chúa đã ban đầy tràn cho tôi, và đã giải thoát tôi
khỏi mọi nguy hiểm phần hồn cũng như phần xác, do lời cầu bàu của
Vị Thánh Cả vinh phúc này". Thánh nữ tha thiết mời gọi tất cả
những ai không tin hoặc chưa tin, hãy thử mà cậy nhờ, hãy thử cầu
khẩn Thánh Cả Giu-se vinh hiển, thì đoan chắc không có ơn nào mà ngài
lại từ chối !
Chúng ta hãy dâng lời cảm tạ Chúa đã trao tặng Thánh
Giu-se cho mỗi người chúng ta, cho gia đình chúng ta, và đặc biệt cho
Giáo Hội Việt Nam. Nhờ lời cầu bầu của Thánh Cả Giu-se, xin Chúa
chúc lành cho chúng ta là những người chồng, những người cha, giúp
chúng ta thêm can đảm và kiên tâm chu toàn bổn phận trong gia đình.
Xin Chúa cũng chúc lành cho mọi gia đình và Giáo Hội Việt Nam, giúp
mọi người sống xứng đáng với ơn gọi làm chứng nhân cho Tình Yêu
Chúa trong hoàn cảnh hiện tại nơi quê hương Việt Nam.
Cũng xin gợi thêm một vài ý suy tư nho nhỏ nhân năm nay là
Năm Thánh Hóa Gia Ðình theo lời kêu gọi của Ðức Giáo Hoàng Gio-an
Phao-lô 2:
- Sự kiên
nhẫn trung thành chu toàn bổn phận của Thánh Cả Giu-se trong gia đình
Na-da-rét có làm cho tôi suy nghĩ về cách cư sử của mình trong gia đình
không ?
- Tôi đãù bao giờ kêu cầu với Thánh Giu-se,
xin Ngài bầu cử và ban ơn để chu toàn nghĩa vụ làm chồng, làm cha
trong gia đình tôi không ?
- Trước những cam go thử thách của gia đình,
tôi biết cậy nhờ ai trước nhan Thiên Chúa hơn là chạy đến với Thánh
Cả Giu-se ?
Lm. Giu-se NGUYỄN HUY TẢO, Giáo Phận Bắc Ninh
SUY NIỆM 3:
THÁNH GIU-SE, CHA NUÔI CỦA ÐỨC GIÊ-SU
Ðức Chúa Thánh Thần nói rất
ít về những nhân vật nổi tiếng trong Kinh Thánh, điển hình là Thánh
Giu-se. Giu-se là nhân vật nổi bật nhất trong Phụng Vụ, chỉ sau Ðức
Trinh Nữ Ma-ri-a. Ấy vậy mà Kinh Thánh không hề trích dẫn hoặc ghi
lại bất kỳ lời nói nào của ngài.
Trong bài này chúng ta chỉ nêu ra 5 nhân
đức của Thánh Giu-se. Mỗi nhân đức sẽ được đề cập vắn tắt để rồi
rút ra những bài học áp dụng cho chúng ta.
Khiêm tốn là biết nhận
chân, nhìn nhận sự thật. Nhân đức khiêm tốn giúp ta nhận ra chân
giá trị của mọi sự và hành động theo sự nhìn nhận mối tương quan
thực của chúng ta, trước hết, là đối với Thiên Chúa và rồi với tha
nhân. Theo tiêu chuẩn này, Thánh Giu-se là một người rất khiêm tốn.
Ngài nhận ra vị trí của mình đối với Ðức Ma-ri-a và Chúa Giê-su. Ngài
biết mình thua kém về mặt ân sủng so với cả hai đấng. Ấy vậy mà
ngài chấp nhận vai trò người chồng của Ðức Ma-ri-a và người bảo trợ
Con Thiên Chúa.
Bài học cho chúng ta là nếu
ta khiêm tốn thật, ta sẽ không tìm cách tỏ ra ta đây tài giỏi hơn,
đạo đức hơn con người thật của mình. Ðồng thời, ta cũng không đánh
giá thấp bản thân mình. Một người khiêm tốn không đánh giá mình quá
cao nhưng cũng chẳng đánh giá thấp bản thân mình.
Nếu ta khiêm tốn thật, ta sẽ
không giả bộ tỏ ra tài giỏi, đạo đức hơn con người thật của mình.
Ðó là thái độ kiêu ngạo. Ta cũng không phủ nhận khả năng thật của
mình hoặc cho rằng mình tài hèn sức mọn, thua kém mọi bề. Ðó là
khiêm tốn giả tạo.
Khiêm tốn là nhân đức luân
lý giữ ta khỏi đi quá trớn. Ðức khiêm tốn giúp ta không khao khát
quá mức và thèm muốn vô độ danh vọng cho bản thân, trái lại khiêm
tốn dẫn đưa ta vào trong một tình yêu bản thân có trật tự, dựa trên
sự đánh giá đúng về vị trí của mình trong tương quan với Thiên Chúa
và với tha nhân. Sự khiêm tốn của người tôn giáo nhìn nhận con
người hoàn toàn lệ thuộc vào Thiên Chúa và mọi người đều là thụ
tạo bình đẳng với nhau. Khiêm tốn không chỉ đối nghịch với kiêu ngạo
mà còn đối nghịch với sự tự ti không dám nhận mình được Thiên Chúa
ban cho các tài năng để mình sử dụng theo Thánh Yù Chúa.
Truyền thống Hội Thánh luôn
cho rằng Thánh Giu-se sống cuộc đời khiết tịnh thánh hiến. Một số
sách ngụy thư mô tả Giu-se như một ông già, thậm chí còn là một
người đàn ông goá vợ. Tuy nhiên, đây không phải giáo huấn của Hội
Thánh.
Ta tin
rằng Giu-se là người khiết tịnh, đã sống đời hôn nhân khiết tịnh với
Ðức Ma-ri-a nhằm bảo vệ phẩm giá và danh tiếng của Ma-ri-a và Người
Con của Mẹ.
Chúng
ta có thể học được điều gì ? Ðó là Ðức Khiết Tịnh có một mục đích
Tông Ðồ. Ðức Khiết Tịnh giúp ta chinh phục các tâm hồn. Ðức Khiết
Tịnh được Thiên Chúa đánh giá cao. Người quan phòng sắp xếp một loạt
các phép lạ liên quan đến Ðức Khiết Tịnh:
§ Sự
thụ thai của Ðấng Cứu Thế
§ Sự
kiện Con Thiên Chúa sinh ra bởi một trinh nữ
§ Cuộc
hôn nhân giữa Ma-ri-a và Giu-se
§ Cuộc
đời Chúa Giê-su Ki-tô.
Khiết tịnh là nhân đức điều
hoà, chế ngự thú vui xác thịt theo các nguyên tắc của Ðức Tin. Với
người lập gia đình, đức khiết tịnh điều hoà ước muốn ấy cho phù hợp
với cuộc sống của mình. Với người độc thân muốn lập gia đình, ước
muốn phải bị chế ngự cho đến khi lập gia đình. Với những ai có ý định
không lập gia đình, ước muốn ấy bị hy sinh hoàn toàn.
Khiết
tịnh có nghĩa là chế ngự mọi hành vi hoặc tư tưởng không phù hợp
với giáo huấn của Hội Thánh về việc sử dụng cơ quan truyền sinh.
Ðặc biệt, Ðức Khiết Tịnh nhấn mạnh đến việc xa lánh những gì làm cho
tâm hồân trở nên nhơ uế.
Ngài vâng lời khi đem Hài Nhi
lên Giê-ru-sa-lem theo quy định của Lề Luật, chấp nhận Thánh Ý nhiệm
mầu của Thiên Chúa khi Hài Nhi bị lạc, và chấp nhận Thánh Ý còn
nhiệâm mầu hơn nữa của Thiên Chúa khi Trẻ Giê-su tuyên bố với Ðức
Ma-ri-a rằng: Người còn phải lo việc Cha Người - dẫu rằng điều ấây
hết sức làm phiềân lòng người cha nuôi Giu-se của mình, để vâng phục
Cha Người trên Trời.
Bài
học cho chúng ta là gì ? Vâng lời là một trắc nghiệm về tình yêu
của ta đối với Thiên Chúa. Lề luật của Người là phương thế giúp ta
chứng minh tình ta yêu Người. Ở đâu không có vâng phục, ở đấy không
có tình yêu. Ở đâu có sự vâng phục nhiều, ở đấy có tình yêu
nhiều.
Giu-se
là người gia trưởng. Ngài đứng đầu Thánh Gia. Trên ngài không có ai
để ngài tuân phục. Như vậy. sự vâng phục của Giu-se chủ yếu là
vâng phục nội tâm.
Mỗi lần cần
phải vâng phục, Giu-se lại được linh hứng. Chính sự linh hứng của
Thiên Chúa bảo Giu-se hãy kết hôn cùng Ðức Trinh Nữ Diễm Phúc. Chính
sự linh hứng nội tâm bảo Giu-se hãy kết hôn cùng Ðức Ma-ri-a sau khi
ngài phát hiện Ma-ri-a đang mang thai. Cũng chính sự linh hứng của
Thiên Chúa bảo Giu-se hãy cùng Ma-ri-a chạy sang Ai-cập. Chính sự linh
hứng của Thiên Chúa bảo Giu-se hãy trở về Pa-lét-tin. Cuối cùng
cũng chính được Thiên Chúa linh hứng mà Giu-se được chỉ thị hãy sống
cùng Giê-su và Ma-ri-a tại Pa-lét-tin.
Sự
vâng phục của Giu-se có nguồn gốc sâu xa từ bên trong. Ngài vâng
phục Thiên Chúa bằng một bản năng siêu nhiên. Giu-se vâng phục
không phải chỉ vì hễ được bảo gì thì cứ vậy mà làm mà còn do tâm
trí của ngài luôn luôn hoà hợp với tâm trí của Thiên Chúa.
Ðức
Khôn Ngoan của Thánh Giu-se thể hiện rõ nét nhất nơi việc ngài thực
hành đức thinh lặng. Dĩ nhiên Giu-se có nói. Tuy nhiên, Phúc Âm không
ghi lại một lời nào của ngài, hẳn nhiên muốn dạy ta rằng nếu ta
muốn thực hành nhân đức khôn ngoan, ta phải biết thực hành Ðức Thinh
Lặng.
Thánh Giu-se dạy ta rằng khôn
ngoan là hiểu biết đúng đắn việc gì cần làm, việc gì phải tránh.
Khôn ngoan là nhân đức của trí khôn giúp ta biết phân tích vấn đề,
biết nhận chân phân biết phải trái, tốt xấu. Theo nghĩa này, khôn ngoan
là nhân đức luân lý giúp ta biết suy tính, biết lựa chọn và biết
chuẩn bị các phương thế thích hợp để tránh điều xấu. Khôn ngoan là
có đầu óc thực tiễn, và ta thủ đắc nhân đức khôn ngoan bằng cách
hành động vừa do được thấm nhuần ơn thánh sủng. Có thể nói rằng
đức khôn ngoan vừa mang tính tự nhiên tận nhân lực, vừa mang tính
siêu nhiên vì được Thiên Chúa tiếp sức.
Là một nhân đức, sự khôn
ngoan bao gồm ba bước: suy tính kỹ, bàn hỏi với người khác; biết nhận
định, phán đoán trên cơ sở những chứng cứ thu thập; và bắt tay hành
động sau khi đã đi đến quyết định.
Các nhân đức khác của Thánh
Giu-se rất đáng ta ngưỡng mộ, tuy nhiên tình yêu đặc biệt mà ngài
dành cho Chúa Giê-su và Mẹ Ma-ri-a rất đáng ta noi theo. Thiên Chúa
quan phòng đã đặt ngài sống với Chúa Giê-su và Mẹ Ma-ri-a và ngài
đã sống đúng lòng kỳ vọng của Thiên Chúa bằng cách tận tình yêu
thương, chăm sóc Chúa Giê-su và Mẹ Ma-ri-a.
Ðiểm đáng quan tâm ở đây
không phải việc Thánh Giu-se được kề cận bên Chúa Giê-su và Mẹ
Ma-ri-a trong nhiều năm, mà là việc ngài biết thực hành Ðức Yêu
Thương. Thánh Giu-se không chỉ nói với Chúa Giê-su và Mẹ Ma-ri-a rằng
ngài yêu cả hai vị lắm mà ngài thể hiện tình yêu bằng hành động.
Ngài sống đức yêu thương.
Ðó là bí quyết của tình yêu
chân chính. Ta tôn sùng Chúa Ki-tô và Mẹ Người đích thực khi ta thực
hiệân điều mà ta biết là Chúa Ki-tô và Mẹ Ma-ri-a muốn ta làm. Nghĩa
là ta nhận ra sự quan phòng của Thiên Chúa mọi lúc, mọi sự trong
cuộc đời của ta:
§
nơi
những thất vọng và thất bại
§
nơi
những biến cố xảy ra bất ngờ
§
nơi
những trì hoãn, trục trặc
§
nơi
những dấu chỉ của thời đại
§
nơi
những hành vi kỳ quặc của một số người
§ nơi sự im lặng nhiệm mầu của
Thiên Chúa, là Ðấng thường ẩn giấu ý định của Người đối với ta, mà
lại sử dụng những người khác - mấu chốt là ở đây, nghĩa là thông
qua những người khác - để nói với ta điều mà Người muốn ta làm.
Thánh Giu-se rất đáng để ta
học hỏi và chạy đến khẩn cầu. Vậy, ta hãy thưa cùng ngài:
Lạy Thánh Giu-se, cha nuôi
Chúa Giê-su và người bảo bọc Ðức Trinh nữ Ma-ri-a, xin dạy chúng con
bài học khó nhất mà chúng con cần phải học trong cuộc sống: xin dạy
chúng con biết yêu thương như ngài đã yêu bằng cách thực hành đức
ái, bằng cách thực thi các tình cảm mà chúng con thường biểu lộ ra
trong khi cầu nguyện. Xin dạy chúng con hiểu điều Mẹ Ma-ri-a muốn nói
khi Mẹ thưa: "Xin thành sự nơi con theo ý chỉ của Chúa". Và điều Chúa
Giê-su muốn nói khi Người dạy: "Nếu anh em yêu mến Thầy thì anh em sẽ
giữ lệnh truyền của Thầy".
Lm.
JOHN A. HARDON, Dòng Tên ( Catholic Faith, March – April 1999 )
Bản dịch của Gs. ÐAN QUANG TÂM
CHIA SẺ:
GIU-SE, VỊ THÁNH
THẦM LẶNG
Nếu
bạn hỏi 10 người, xem vị Thánh lớn nhất đối với họ là ai, thì có
đến 6, 7 người sẽ nói rằng: đó là Thánh Giu-se. Nhưng nếu lại đề
nghị họ hãy kể cho bạn nghe những gì Thánh Giu-se đã làm, thì rất ít
người có thể nói được một điều gì mới lạ, ngoại trừ việc Thánh
Giu-se là cha nuôi của Chúa Giê-su, hoặc một vài truyện truyền kỳ
về ngài mà chúng ta không biết đúng sai đến độ nào. Ví dụ như câu
truyện chàng thanh niên Giu-se được chọn làm hôn phu của cô Ma-ri-a
chỉ vì cây gậy của chàng trổ hoa !
Chúng
ta hãy trở về với Kinh Thánh để xem các tác giả Tin Mừng viết gì về
Thánh Giu-se. Trước tiên, Thánh Mát-thêu giới thiệu về ngài như sau:
"Bà
Ma-ri-a, mẹ của Ðức Giê-su, đã thành hôn với ông Giu-se. Nhưng trước
khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh
Thần. Ông Giu-se, chồng bà, là người công chính và không muốn tố
giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo. Ông đang toan tính như
vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng: "Này ông Giu-se, là con cháu Ða-vít, đừng ngại đón bà Ma-ri-a
vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh
Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su,
vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ"... Khi tỉnh giấc, ông Giu-se làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ
về nhà." ( Mt 1, 18 - 21 . 24 )
Bạn
thuộc đoạn văn trên đến độ tôi rất do dự khi phải chép lại. Mọi
chuyện đã rõ: Thánh Giu-se có do dự đấy chứ, nhưng sứ thần của Chúa
đã đến sắp xếp mọi việc và đâu lại vào đấy, đúng với
"chương-trình-mầu-nhiệm-của-Thiên-Chúa"
Thế
mọi sự có thật sự xảy ra dễ dàng như vậy không ? Tôi không chắc
đâu ! Hình ảnh Thánh Giu-se luôn luôn là một cụ già râu tóc uy nghi,
một người cha nhân lành và không hề biết thế nào là những đam mê
tuổi trẻ !?!
Xin
các bạn nhớ lại cho: cô Ma-ri-a lúc ấy là một cô gái vào khoảng
15, 17, thế thì chàng hôn phu không thể là một ông già. Chàng Giu-se
lúc ấy có lẽ là một chàng trai đầy sức sống ở lứa tuổi đôi mươi
thì đúng hơn. Chàng Giu-se và nàng Ma-ri-a yêu nhau thắm thiết. Cặp
tình nhân đẹp tuyệt vời, nhất là ở nét đẹp tâm hồn. Và Giu-se đã
thật hạnh phúc và bình an: một người như cô Ma-ri-a thì không thể có
gì bất trắc xảy ra khiến cho cuộc sống gia đình tương lai của họ có
thể bị đe dọa...
Thế mà,
đùng một cái, người hôn thê thánh thiện của Giu-se lại đã mang thai
! Chàng có giàu óc tưởng tượng đến đâu cũng không tài nào tưởng
tượng được một tiếng sét giữa trưa hè chói chang như thế.
Sự
thể hiển nhiên là như vậy. Tuy nhiên, tự thâm sâu, tình yêu của
Giu-se vẫn trổi vượt. Chàng không hề quay lại bản thân mình để cảm
thấy bị lừa dối xúc phạm, nhưng chỉ hướng về người yêu để tiếp tục
tin rằng vị hôn thê của mình vẫn thật sự trong sạch vẹn tuyền. Chàng
không hề tra hỏi cô Ma-ri-a một lời nào, chàng chỉ im lặng ôm lấy
nỗi đau, và âm thầm trả Ma-ri-a về với bí mật của nàng. Bạn sẽ bảo
rằng tình yêu đó đã được thưởng, bởi sau đó, sứ thần của Chúa đã
đến trình bày mọi sự. Bạn có đi quá xa thực tế chăng ?
Kinh
Thánh ghi rõ: "Sứ thần Chúa hiện đến báo
mộng..." Bạn thử sống trong hoàn cảnh của Giu-se lúc
ấy mà xem: Bạn có một người hôn thê, người hôn thê ấy có mang,
rồi bạn nằm mộng thấy thiên thần đến bảo rằng hôn thê của mình
chưa bao giờ liên hệ với một thanh niên nào, và bào thai trong lòng
cô là do phép lạ của Thiên Chúa. Khi thức giấc, bạn có tin không ?
Tôi thì dứt khoát không ! Thế mà Giu-se đã làm gì nào ? "Khi tỉnh giấc, ông Giu-se làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ
về nhà." Ðơn giản chỉ có thế. Ðơn giản đến độ vô lý
!
Vâng,
thế đấy, sự vâng phục Thánh ý Thiên Chúa của Giu-se thật chóng
vánh, quyết liệt và dứt khoát đến độ vô lý. Giu-se chỉ cần một dấu
hiệu cỏn con là đã đọc được Thánh ý Thiên Chúa và thực thi ngay
lập tức. Và đó là lý do mà ông được gọi là "Người-Công Chính".
Còn
bạn và tôi thì sao ? Chúng ta có tự coi mình là công chính chăng ?
Chúng ta có sẵn sàng đón nhận Thánh ý Thiên Chúa qua một dấu hiệu
thật nhỏ bé và rồi tuân theo mà không bàn cãi chăng ? Hay chúng ta
chờ đợi những phép lạ nhãn tiền, và sau đó là lý luận, mặc cả
trước khi hành động ?
"Người-Công-Chính" Giu-se hình như là một
người suốt cả cuộc đời luôn luôn thức tỉnh trước Thánh ý Thiên
Chúa, thức tỉnh ngay cà trong giấc ngủ. Bằng chứng ? Ðó là: cứ mỗi
lần Thiên Chúa tỏ ý là mỗi lần ông lại nằm mộng. Ngoài lần nằm
mộng ở Na-da-rét thì ít nhất còn ba lần khác:
§ Ở
Bê-lem: "Sứ thần Chúa hiện ra báo mộng cho ông
Giu-se rằng: "Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai-cập,
và cứ ở đó cho đến khi tôi báo lại, vì vua Hê-rô-đê sắp tìm giết
Hài Nhi đấy !" Ông Giu-se liền chỗi dậy, và đang đêm, đưa Hài Nhi và
mẹ Người trốn sang Ai-cập." ( Mt 2, 13 - 14 )
§ Ở
Ai-cập: "Sứ thần Chúa lại hiện ra với ông Giu-se
bên Ai-cập, báo mộng cho ông rằng: "Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ
Người về đất Ít-ra-en, vì những kẻ tìm giết Hài Nhi đã chết rồi.
"Ông liền chỗi dậy đưa Hài Nhi và mẹ Người về đất Ít-ra-en." ( Mt
2, 19 - 21 )
§ Ở
Giu-đê: "Vì nghe biết Ác-khê-lao đã kế vị vua cha là
Hê-rô-đê, cai trị miền Giu-đê, nên ông Giu-se sợ, không dám về đó.
Rồi sau khi được báo mộng, ông lui về miền Ga-li-lê, và đến ở tại
một thành kia gọi là Na-da-rét." ( Mt 2, 22 - 23 )
Sở dĩ
Giu-se xác tín rằng các giấc mộng của mình đúng là Thánh Ý Thiên
Chúa, vì cứ mỗi lần ông nằm mộng là mỗi lần phải quyết định ngược
hẳn với ý định riêng của mình.
Khi
ông dự định âm thầm rời bỏ cô Ma-ri-a thì Thiên Chúa lại bảo ông ở
lại với người hôn thê của mình. Ngược lại, khi 3 nhà chiêm tinh (
hoặc đạo sĩ ) đến xác nhận vương quyền của Hài Nhi, và hẳn là người
cha nuôi nghĩ rằng mình sẽ được thoải mái ở lại Bê-lem cho đến khi
con mạnh và mẹ khỏe, thì chính lúc đó, Thiên Chúa bảo ông trỗi dậy
đi ngay giữa đêm khuya, không hành trang, không tiền bạc, cũng chẳng
phải là về quê hương mình mà là sang Ai-cập để sống kiếp lưu đày.
Giu-se
đã nghĩ gì khi trước mặt là đường dài vạn dặm mà vợ yếu con sơ ?
Giu-se đã nghĩ gì khi ở xứ lạ quê người, tương lai cũng tối đen như
trời khuya hôm ấy ? Kinh Thánh nói rất gọn: "Ông Giu-se liền
chỗi dậy, và đang đêm, đưa Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai-cập." Cũng
lại thật đơn giản. Ðơn giản đến độ vô lý !
Khi
đã tạm yên thân ở Ai-cập sau những ngày đầu khó khăn, Giu-se hẳn
đã sắp xếp ổn định cuộc sống gia đình, thì một lần nữa, Thiên Chúa
lại bảo ông phải bỏ tất cả mà ra đi. Ông đã nghĩ thế nào khi nhìn
lại những gì đã vun quén xây dựng được từ hai bàn tay trắng ? Ông
đã nghĩ gì khi nhìn lại cái nơi chốn quê hương đã muốn hại con mình,
mà bây giờ ông lại phải trở về, rồi không biết sẽ ở đâu ?
Nhưng
Giu-se vẫn là Giu-se. "Ông liền trỗi dậy đưa Hài
Nhi và mẹ Người về đất Ít-ra-en." Cũng lại đơn giản đến độ
vô lý !
Tất
cả những truân chuyên mà Giu-se gánh chịu, rốt cuộc để làm gì ? Phải
chăng vì lợi ích cho bản thân mình ? Tuyệt nhiên là không ! Tất cả
là để bảo vệ Hài Nhi, một Hài Nhi mà có một lần trong mộng, ai đó
đã bảo rằng đó sẽ là Ðấng Cứu Tinh cho dân tộc. Giu-se không bao
giờ đặt lại vấn đề. Không bao giờ ông lại cho rằng Hài Nhi đã gây
cho ông quá nhiều rắc rối. Trong mọi tính toán dự liệu hằng ngày,
ông chỉ một mực canh giữ Hài Nhi, Người Con do Chúa Thánh Thần.
Bạn
và tôi, chúng ta có sẵn sàng trả giá để Chúa Giê-su luôn cư ngụ
mãi trong tâm hồn mình không ? Hay nhiều khi quá mệt mỏi, chúng ta chỉ
muốn yên thân để lo toan chuyện của mình và bỏ mặc Chúa Giê-su ra
sao thì ra ?
Giu-se
đã trả mọi giá để giữ gìn Chúa Giê-su. Nhưng, cũng đôi khi sức
người cũng có hạn. Trong chuyến đi Giê-ru-sa-lem, khi trẻ Giê-su mới
12 tuổi, ông đã để Giê-su vuột khỏi tầm tay. 3 ngày ròng ông kiếm
tìm, 3 ngày ròng cả hai ông bà đã phải "cực lòng tìm
con". Thế rồi, ngay khi vừa tìm thấy thì ông được gì ? Như thể một
gáo nước lạnh tạt vào mặt: "Sao cha mẹ lại tìm con ? Cha
mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao ?" ( Lc
2, 48 - 49 ).
Cậu
bé Giê-su ấy, khi ra đời chỉ là một Hài Nhi nằm gọn trong máng cỏ,
12 năm trời chịu kham chịu khổ để cho cậu khôn lớn như thế này. 12
năm trời tình thương để thêm thịt thêm da, cho thành một thiếu niên
nặng cân như thế. Mà tình thương thì có nặng gì cho cam, phải tốn bao
nhiêu tình thương để tạo thành một con người như thế ? Vậy mà một
tiếng kêu "cha ơi" âu
yếm Giu-se cũng không được nghe. Ông không hiểu gì cả, nhưng ông vẫn
lặng thinh đón nhận.
Và
đấy cũng là chiều kích bất ngờ của Thánh Giu-se. Trong suốt 4 cuốn
sách Tin Mừng, không có một câu nói nào của Thánh Giu-se. Ðức
Ma-ri-a được coi là mẫu mực của sự thinh lặng nguyện cầu, Mẹ luôn
luôn ghi nhớ và suy niệm trong lòng. Thế nhưng cũng còn có đến 6 lần
Mẹ đã lên tiếng: 2 lần ngày được sứ thần truyền tin, 1 lần trước
bà Ê-li-sa-bét, 1 lần khi tìm lại được trẻ Giê-su, 2 lần trong tiệc
cưới ở Ca-na.
Còn
Thánh Giu-se thì tuyệt đối không nói một lời nào ! Ngay cả trong lần
lại được con ở Ðền Thờ Giê-ru-sa-lem thì chính người mẹ đã lên tiếng
chứ không phải là ông: "Con ơi, sao con lại xử với
cha mẹ như vậy ? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng
tìm con !" ( Lc 2, 48 ).
Trong
xã hội Do-thái lúc bấy giờ, người phụ nữ là hạng người không đáng
kể. Tin Mừng theo Thánh Mát-thêu ghi lại 2 lần Chúa Giê-su làm phép
lạ hóa bánh ra nhiều, lần đầu để nuôi 5.000 người không kể đàn bà
và trẻ con ( x. Mt 14, 21 ); lần thứ hai cho 4000 người cũng người
không kể đàn bà và trẻ con ( x. Mt 15, 38 ). Vậy mà Thánh Giu-se dẫu
biết mình là chủ gia đình, nhưng ông vẫn không nói gì cả, người lên
tiếng vẫn là Ðức Ma-ri-a.
Thánh
Giu-se sống một cuộc sống càng ngày càng mờ đi để cho Chúa Giê-su
càng ngày càng sáng lên. Ông sống mờ nhạt đến độ những người trong
thị trấn Na-da-rét không buồn nhớ tới tên ông, mà chỉ gọi là "ông-thợ-mộc". Theo Thánh Mát-thêu và
Thánh Mác-cô, ngày Chúa Giê-su trên đường rao giảng, trở về
Na-da-rét, người đồng hương đã bàn tán: "Ông ta không
phải là con bác thợ mộc đó sao ? Mẹ của ông ta không phải là bà
Ma-ri-a đó sao ?" ( Mt 13, 55; Mc 6,3 ). Sau này, khi viết
lại sách Tin Mừng, Thánh Lu-ca hẳn đã thấy cái chua chát đó nên đã
ghi cách khác: "Ông này không phải là con
ông Giu-se đó sao ?" ( Lc 4, 22 )
Dù
sao đi nữa, sự âm thầm của Thánh Giu-se quả là một đặc trưng của
ngài. Âm thầm đến độ mà khi Chúa Giê-su bắt đầu lên tiếng trong
cuộc đời công khai, thì Thánh Giu-se không còn được nhắc đến mẩy may
nào, thậm chí, ngài chết bao giờ, thế nào, ở đâu thì cũng chẳng ai
biết. Trong cuộc đời công khai của Chúa Giê-su thì Thánh Giu-se có vẻ
như bị xem nhẹ hơn cả bà nhạc của ông Phê-rô hay đứa con gái của
ông Giai-rô.
Thế nhưng,
chính điều đó đã biến Thánh Giu-se thành một vị Thánh lớn, bởi vì
ngài đã đem cuộc đời mình biến thành một Lời Chúa sống động. Thánh
Gio-an Tẩy Giả đã khiêm tốn rao giảng rằng: "Người phải nổi
bật lên, còn tôi phải lu mờ đi" ( Ga 3, 30 ). Thánh Giu-se
đã sống điều đó mà không nói một lời nào. Tiếng "xin vâng" của Mẹ Ma-ri-a ở Na-da-rét và tiếng "xin vâng" của Chúa Giê-su ở vườn Ghết-sê-ma-ni đã
được hòa âm trong trọn vẹn cả cuộc đời Thánh Giu-se.
Và
Thánh Giu-se sẽ mãi mãi là tấm gương cho bạn và tôi.
Tấm
gương của một con người luôn thao thức lắng nghe tiếng Thiên Chúa, và
khi nghe được rồi thì đáp lại không chần chừ, dù cho phải trả giá.
Tấm gương
của một con người luôn luôn làm đủ mọi cách gìn giữ Chúa Giê-su
bên mình. Và nếu chẳng may lạc nhau thì không đi tìm không ngưng nghỉ
cho đến khi gặp lại mới thôi.
Tấm
gương của một con người "công chính" chỉ làm có một điều duy nhất là
trình bày Chúa Giê-su cho mọi người, rồi âm thầm xóa mình đi khi Chúa
Giê-su bắt đầu lên tiếng...
Gs. TRẦN DUY NHIÊN
TÀI LIỆU:
"QUAMQUAM
PLURIES", THÔNG ÐIỆP CỦA ÐỨC THÁNH CHA LÊ-Ô 13
VỀ VIỆC TÔN SÙNG THÁNH GIU-SE
Những lý do đặc
biệt vì đó mà Thánh Giu-se được tuyên xưng là Quan Thầy Hội Thánh và
vì đó mà Giáo Hội tìm kiếm lợi ích phi thường từ sự che chở của
ngài, đó là vì Thánh Giu-se là hôn phu của Ðức Ma-ri-a và là Cha
nuôi Chúa Giê-su Ki-tô. Từ những nguồn này đã phát xuất phẩm giá,
sự thánh thiện và vinh quang của ngài. Sự thực, phẩm giá cao quý
của Mẹ Thiên Chúa cao cả đến độ tạo vật hư không có thể trổ vượt
lên trên. Nhưng bởi vì Thánh Giu-se đã được liên kết với Ðức Trinh
Nữ Ðược Chúc Phúc bởi dây hôn nhân, không còn nghi ngờ gì nữa, là
Người đã tiến gần hơn bất cứ ai tới phẩm giá tột đỉnh mà vì thế Mẹ
Thiên Chúa vượt xa trên tất cả mọi tạo vật một cách cao sang nhường
ấy.
Bởi vì hôn nhân là điều mật thiết nhất trong mọi mối liên hệ, mà từ bản chất nó truyền đạt một cộng-đoàn trao ban giữa những người được nối kết với nhau. Vì thế khi ban Ðức Trinh Nữ Ma-ri-a cho Gi