GOSPELNET
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


CHÚA NHẬT 1 MÙA CHAY NĂM B

TIN MỪNG: Mc 1, 12 - 15

Thần Khí liền đẩy Ðức Giê-su vào hoang địa. Người ở trong hoang địa bốn mươi ngày, chịu Xa-tan cám dỗ, sống giữa loài dã thú, và có các thiên sứ hầu hạ Người. Sau khi ông Gio-an bị nộp, Ðức Giê-su đến miền Ga-li-lê rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa. Người nói: "Thời kỳ đã mãn, và Triều Ðại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng".

SUY NIỆM 1:

Ý THỨC VỀ MÌNH VÀ CẢM THÔNG VỚI NGƯỜI

1.   ÐỨC GIÊ-SU CHỊU THỬ THÁCH TRƯỚC KHI RA ÐI LOAN BÁO TIN MỪNG:

Cám dỗ là một điều cần thiết trong cuộc sống để chúng ta có thể chứng tỏ tình yêu của mình đối với Thiên Chúa. Thật vậy, làm sao ta có thể biết tình yêu của ta đối với Thiên Chúa và tha nhân, tinh thần siêu thoát, lòng đạo đức của ta cao hay thấp và ở mức độ nào, nếu ta không được thử thách ? Tương tự như nếu không dùng lửa hay a-xít để thử, làm sao ta có thể biết được những đồ trang sức của ta là vàng thật hay vàng giả, là nguyên chất hay bị pha tạp ? và nếu bị pha tạp thì pha tạp ở mức độ nào ?

Ðể biết rõ một người trước khi dùng người đó, nhất là vào những chức vụ quan trọng, giám đốc nhân sự của các công ty thường thử tay nghề, thử lương tâm, thử bản lãnh, thử mức độ đáng tín nhiệm của người đó bằng nhiều phương cách khác nhau. Ông có thể dàn dựng khéo léo những cơn cám dỗ. Nhờ những thử thách đó, chẳng những viên giám đốc công ty biết rõ người mình muốn tuyển chọn, mà chính bản thân người được thử thách ấy cũng biết rõ tài đức của mình hơn. Những người đã qua được thử thách một cách thành công chắc chắn sẽ cảm thấy tự tin hơn và dễ đạt được thành quả tối ưu trong công việc của mình. Như vậy, thiết tưởng việc thử thách để biết bản lãnh về tài và đức của mình hay của người là một việc cần thiết và hết sức dễ hiểu.

Quan niệm như thế, ta thấy việc "Thần Khí đẩy Ðức Giê-su vào hoang địa" để "chịu Xa-tan cám dỗ" trong "bốn mươi ngày" trước khi Người khai mạc công việc rao giảng Tin Mừng, là một việc dường như tất yếu phải có. Qua thử thách đó, Ðức Giê-su có dịp tỏ ra cho Thiên Chúa và mọi người thấy bản lãnh của Người để có thể đảm trách công việc loan báo Tin Mừng và cứu chuộc nhân loại.

2.   THỬ THÁCH VÀ CÁM DỖ RẤT CẦN THIẾT TRONG ÐỜI SỐNG CHÚNG TA:

Trong Mùa Chay, Giáo Hội mời gọi chúng ta ý thức về tình trạng yếu kém, tội lỗi, đầy khiếm khuyết trong con người hiện tại hay "con người cũ" - vốn "bị tội lỗi thống trị" ( Rm 6, 6 ) - của chúng ta. Từ đó, ta mới quyết tâm "cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa" ( Ep 4, 22; x. Cl 3, 9 ) để "mặc lấy con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa hầu thật sự sống công chính và thánh thiện" ( Ep 4, 24 ).

Nhiều khi chúng ta ý thức và tự xưng rằng mình tội lỗi, dù rất thật lòng, nhưng ý thức về tình trạng tội lỗi ấy nhiều khi hết sức mơ hồ. Chúng ta không biết mình tội lỗi thế nào, ở mức độ nào, tội lỗi ở chỗ nào... Chính vì thế, chúng ta không biết đường nào mà sửa mình, để rồi cuối cùng, chúng ta chẳng sửa đổi gì cả, nghĩa là "mèo vẫn hoàn mèo". May thay, nhờ có những cám dỗ xảy đến trong đời sống mà ta biết được mình tội lỗi thế nào, ở mức độ nào.

Cũng có nhiều khi ta tưởng mình đạo đức, thánh thiện, vì ta cảm thấy mình rất ít khi lỗi luật của Chúa hay của Giáo Hội. Ta có cảm tưởng ta rất tốt với bạn bè, với những người chung quanh ta, vì ta thấy mình cư xử rất lịch thiệp với họ, không hề đụng chạm tới quyền lợi họ, hay không hề cư xử bất công với họ... Ta cũng giống như Phê-rô và các tông đồ xưa, nghĩ mình là người luôn luôn trung thành với Ðức Giê-su bất kỳ trong hoàn cảnh nào: "Dầu có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy" ( Mt 26, 35 ). Khi nói như thế, các ông rất thành thật, không một chút dối trá. Nhưng các ông không thể ngờ được phản ứng của các ông sau này khi Ðức Giê-su bị bắt: "Các môn đệ bỏ Người mà chạy trốn hết" ( Mt 26, 56 ), còn Phê-rô, người tỏ ra sẵn sàng sống chết với Thầy mình nhất thì "gà chưa kịp gáy ông đã chối Thầy tới ba lần" ( Mt 26, 75 ).

Nhiều khi thứ đạo đức hay trong sạch của ta tương tự như độ trong của một ly nước múc từ dưới bùn lên, nhưng đã được để lắng trong nhiều ngày. Phần trên của ly nước cũng trong vắt không kém gì một ly nước suối. Nhưng khi quậy lên thì nước trong ly đục ngầu đang khi ly nước suối có quậy đến đâu cũng vẫn tiếp tục trong vắt. Nếu không quậy lên, người ta có cảm tưởng nước ở trong cả hai ly tốt như nhau. Nếu không quậy lên, làm sao biết được ly nào là trong thật sự ? Cũng vậy, nếu không có cám dỗ, làm sao biết được ai đạo đức sâu xa, ai đạo đức chỉ ở bề mặt ?

3.   CHỈ BIẾT MÌNH ÐẠO ÐỨC HAY KHÔNG QUA NHỮNG CÁM DỖ THỬ THÁCH:

Nguyễn Công Trứ viết: "Ví phỏng đường đời bằng phẳng cả, anh hùng hào kiệt có hơn ai". Thật vậy, nếu cuộc đời của mọi người đều an bình, thuận buồm xuôi gió cả, thì người có bản lãnh sẽ hành xử chẳng khác gì người không bản lãnh. Nếu các đồ vàng bạc không được thử bằng lửa hay a-xít thì chẳng sao phân biệt được vàng thật hay vàng giả.

Cũng vậy, chính trong cơn hoạn nạn ta mới biết được ai là bạn tốt, bạn thật của ta: "Friend in need, friend indeed" ( Bạn bè trong cơn hoạn nạn mới là bạn thật ). Tương tự, chỉ khi gặp những biến cố, những hoàn cảnh khó khăn, ta mới biết được ta có đạo đức hay không. Muốn biết đạo đức của ta ở mức độ nào, ta cần phải tự xét xem phản ứng của ta thế nào...

- Khi quyền lợi của ta bị va chạm một cách bất công: lúc đó ta nổi sùng lên và chửi rủa loạn xạ ? hay ta bình tĩnh xét xem nguyên nhân tại đâu, suy nghĩ xem có thể giải quyết cách nào cho đẹp nhất, khôn ngoan nhất, bác ái nhất ?

- Khi có một quyền lợi nào đó không thể phân chia xảy đến giữa ta và người bạn của ta: lúc đó ta quyết dành quyền lợi ấy về cho mình ? hay biết nhường cho bạn ? Epictète đưa ra hình ảnh hai con chó có vẻ quấn quít và yêu thương nhau lắm. Nhưng khi có ai quăng cho chúng một cái xương, thì chúng quay ra cắn nhau sứt đầu chảy máu. Như vậy có thật là chúng yêu thương nhau không ? Làm sao biết được chúng có yêu thương nhau thật sự không nếu không có miếng xương để thử ?

- Khi đứng trước một người gặp nguy khốn đang cần cứu giúp, nhưng nếu cứu giúp thì ta sẽ phải hy sinh rất nhiều: lúc đó ta sẽ cứu giúp người ấy bất chấp phải hy sinh ? hay sẽ nhường việc cứu giúp ấy cho người khác ?

- Khi đứng trước những bất công trước mắt mà việc lên tiếng của ta có thể chặn đứng hay giảm bớt phần nào, nhưng nếu lên tiếng thì ta sẽ bị sách nhiễu, công việc của ta sẽ bị cản trở: lúc đó ta sẽ coi sự đau khổ của đồng loại quan trọng hơn sự thoải mái cá nhân ta ? hay ngược lại ?

- Khi mà nồi cơm của ta và gia đình ta bị đe dọa nếu ta làm theo lương tâm, và làm theo lương tâm sẽ cứu được biết bao nồi cơm của những gia đình khác: lúc đó ta sẽ coi những nồi cơm của vô số gia đình kia quan trọng hơn nồi cơm của gia đình mình ? hay ngược lại ?

- Khi có hai người giàu và nghèo đến với ta một lúc, người giàu đem lại nhiều lợi lộc cho ta, còn người nghèo đến để nhờ ta một việc khá khó khăn: lúc đó ta sẽ đối xử với hai người một cách niềm nở như nhau ? hay ta sẽ đối xử một cách phân biệt hết sức rõ rệt ?

- v.v...

Rất nhiều người tưởng mình tốt lành thánh thiện chỉ vì thấy mình chưa hề phạm một lỗi nào quá đáng, rồi dựa trên sự vô tội của mình họ chê bai người khác đã phạm lỗi này tội kia.

Thật ra, họ chỉ là người chưa phạm tội vì chưa phải ở trong những hoàn cảnh khó khăn, nhiều cám dỗ, chứ không phải họ là những người khó có thể phạm  tội. Rất có thể khi gặp những hoàn cảnh khó khăn, những cơn thử thách, họ còn phạm tội nặng nề hơn những người đã từng bị họ chê trách, mặc dù hoàn cảnh khó khăn hay sự thử thách của họ chẳng nặng nề bằng những người kia. Sự thánh thiện đạo đức phải dựa trên khả năng không phạm  tội khi bị cám dỗ, chứ không chỉ đơn thuần dựa trên tình trạng vô tội trong hiện tại chỉ vì chưa gặp cám dỗ.

Nhiều người tự hào khoe mình bản lãnh lắm, hoặc được mọi người coi là đã tiến rất xa trên con đường nhân đức chỉ vì tu hành đã lâu năm, hay vì được nắm giữ những chức vụ quan trọng trong Giáo Hội, v.v… Nhưng khi gặp những thách đố, khi phải đối đầu với những cám dỗ chưa từng gặp, họ mới nhận ra bản lãnh của mình còn non kém, hay đường nhân đức của mình mới chỉ ở giai đoạn đầu.

Như đã nói trên, cám dỗ và thử thách rất cần thiết cho việc nên thánh của ta. Tuy nhiên, không phải vì thế mà ta nên tự tìm cho mình những cám dỗ. Trái lại, sự khôn ngoan đòi buộc ta phải tránh xa các dịp tội, những điều kiện hay cơ hội khiến ta có thể phạm tội. Câu "dĩ đào vi thượng sách" là một phương cách rất hay trong việc tu đức hay nên thánh. Và cũng nên nhớ lời khuyên của Phao-lô: "Ai tưởng mình đứng vững, hãy coi chừng kẻo ngã" ( 1 Cr 10, 12 ).

Nhưng khi những cám dỗ tình cờ xảy đến ngoài ý muốn của ta, ta nên sẵn sàng đón nhận, và hãy chiến đấu một cách dũng cảm, quảng đại. Rồi dù thắng hay bại, ta cũng hãy coi chúng như những hồng ân Chúa ban để giúp ta hiểu rõ mình hơn, khiêm nhường hơn, giúp ta xác định đúng hơn mình đang ở vị trí nào trên con đường nên thánh.

Lạy Cha, nhiều khi con thầm tự hào về mình, tưởng mình đã đạo đức hay thánh thiện lắm rồi. Nhưng lắm khi chỉ cần gặp những cơn cám dỗ hơi bất thường một chút, con đã ngã gục. Con cám ơn Cha đã gửi những cám dỗ ấy đến để con ý thức về bản lãnh của con một cách chính xác hơn, nhờ đó con khiêm nhường hơn, và biết cảm thông với những yếu đuối của đồng loại hơn.

Gs. NGUYỄN CHÍNH KẾT

SUY NIỆM 2:

"HÃY SÁM HỐI VÀ TIN VÀO TIN MỪNG"

Cùng với toàn thể Giáo Hội Công Giáo, chúng ta bước vào Mùa Chay ( năm B ). Trọng tâm của Mùa Chay là chuẩn bị tâm hồn đón mừng Chúa Phục sinh, đón nhận ơn cứu độ mà Thiên Chúa thương ban cho chúng ta. Các bài đọc Thánh Kinh hôm nay tập trung vào việc Thiên Chúa đã cứu vớt con người: Thiên Chúa đã cứu ông Nôê và con cái ông khỏi nạn hồng thủy ( bài đọc 1 ); Thiên Chúa đã dùng nước ( Phép Rửa ) để cứu toàn thể nhân loại khỏi chết, khi Thiên Chúa sai Ðức Giê-su, Con Một Yêu Dấu của Người, đến trần gian để rao giảng Nước Trời, chịu chết trên thập giá và phục sinh ( bài đọc 2 và bài Tin Mừng ). Ðiều kiện để được cứu là sám hối và tin vào Tin Mừng. Ðó chính là sứ điệp của Lời Chúa.

II. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

Bài đọc 1 ( St 9, 8 - 15 ): Tường thuật việc Thiên Chúa loan báo và cứu ông Nôê và các con ông, khỏi nạn hồng thủy, bằng một giao ước bền vững và lâu dài, không chỉ với ông Nô-ê mà còn với dòng dõi ông. Dấu chỉ của giao ước ấy là chiếc cầu vồng xuất hiện trên bầu trời. Nhưng dấu chỉ tuyệt vời nhất của giao ước của Thiên Chúa với dân, chính là Con Một Thiên Chúa, Ðức Giê-su Na-da-rét, Ðấng đã xuất hiện giữa loài người.

Bài đọc 2 ( 1 Pr 3, 18 - 22 ): Tông Ðồ Trưởng Phê-rô khẳng định: chúng ta được cứu là nhờ "chính Ðức Ki-tô đã chịu chết một lần vì tội lỗi" Người là "Ðấng Công Chính đã chết cho kẻ bất lương hầu dẫn đưa chúng ta đến cùng Thiên Chúa"

Bài Tin Mừng ( Mc 1, 12 - 15 ): Mác-cô nhắc lại sự kiện sau khi chịu phép rửa bởi tay Gio-an Tẩy Giả, Ðức Giê-su được Thánh Thần đưa vào sa mạc để chịu Xa-tan cám dỗ. Sau khi nghe tin Gio-an bị giết hại, Ðức Giê-su xuất hiện công khai ở Ga-li-lê và bắt đầu rao giảng: "Thời kỳ đã mãn và Triều đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng"

Sứ điệp của Lời Chúa: Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng: Nhìn thoáng bên ngoài, chúng ta có cảm tưởng là vào lúc Ðức Giê-su xuất hiện công khai ở Ga-li-lê, mọi người dân Ít-ra-en đều đang ngóng đợi vị Cứu Tinh mà Thiên Chúa đã hứa ban cho họ, vào một thời điểm nào đó trong lịch sử. Khi Gio-an Tẩy Giả rao giảng và làm phép rửa ở sông Gio-đan, nhiều người thuộc đủ mọi thành phần xã hội đã đến với ông.

Vậy tại sao lời rao giảng của Ðức Giê-su lại là: "Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng" ? Ngoài lý do mà chính Ðức Giê-su đã đưa ra: "Thời kỳ đã mãn và Triều Ðại Thiên Chúa đã đến gần", còn lý do nào khác không ?

Thật ra thì số tín đồ Ðạo Do-thái thật sự trông đợi sự xuất hiện của Vị Cứu Tinh và nhất là số tín đồ có một nếp sống phù hợp với lời hứa của Thiên Chúa thì chỉ là một thiểu số rất nhỏ. Số đông hơn là những người bán tín bán nghi về lời hứa của Thiên Chúa và là những người sống thờ ơ với việc chuẩn bị cho ngày trọng đại mà các Ngôn Sứ đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần.

Chúng ta biết rằng lúc này Ðạo Do-thái đã rơi vào thời kỳ suy tàn. Các thành phần được coi là ưu tú của Ðạo ( tư tế, kinh sư, luật sĩ, biệt phái Pha-ri-sêu ) nghiêng về cách giữ đạo hình thức, bề ngoài, tuân thủ luật lệ theo nghĩa đen, tìm kiếm lợi lộc cá nhân và phe nhóm hơn là có một lòng đạo đích thực, đẹp lòng Chúa. Trong khi đó những người bé mọn chẳng những không được quan tâm nâng đỡ, mà còn trở thành nạn nhân của các cách hành đạo của các tầng lớp cai trị. Vì thế mà Ðức Giê-su mới lớn tiếng công bố và kêu gọi: "Thời kỳ đã mãn, Triều Ðại Thiên Chúa đã đến gần, Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng".

Khi Ðức Giê-su kêu mời người đương thời "Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng" thì bắt buộc họ phải hướng về, quan sát và chiêm ngắm Người, để xem Người nói năng, giảng dạy, hành động và sống như thế nào.

Vì thế sám hối trước hết là thay đổi tư duy và hành động tức không suy nghĩ và hành động theo thói quen, tập quán xói mòn nữa mà suy nghĩ và hành động theo cách mới mà Ðấng Mê-si-a của Thiên Chúa đem đến, phù hợp với giai đoạn mới của Lịch Sử Cứu Ðộ. Tin vào Tin Mừng là tin vào tình thương và sự trung tín giữ lời hứa của Thiên Chúa, là tin vào Ðức Giê-su Na-da-rét, hiện thân của Thiên Chúa, vì Người đã được Thánh Thần xức dầu và đưa vào trần gian để loan báo Tin Mừng cho người nghèo, bị áp bức bóc lột, bị lãng quên khinh rẻ.

Ðọc Phúc Âm, chúng ta thấy hố ngăn cách to lớn giữa cách sống xưa cũ của người Do-thái với Giáo Lý mới mẻ của Ðức Giê-su. Không biết bao nhiêu lần, Ðức Giê-su đã phải nói: "Anh em nghe người xưa nói thế này, thế này... Còn Thầy, Thầy bảo anh em hãy làm, hãy sống, hãy cư xử thế này, thế này..."

Ðiều chỉnh cách suy nghĩ và cách sống của mình theo cách suy nghĩ và cách sống của Ðức Giê-su, đó chính là sám hối. Và như thế thì sám hối không chỉ giới hạn trong lãnh vực đời sống luân lý, như nhiều giáo dân thường hiểu, mà bao hàm cả lãnh vực quan điểm, cách nhìn, cách lượng giá, cách thẩm định, cách chọn lựa ưu tiên trong đời sống cá nhân cũng như xã hội. Sám hối cũng đồng nghĩa với canh tân đổi mới: tháo bỏ những cái gì là cũ kỹ, lạc hậu ( chứ không hẳn chỉ là tội lỗi ) và thay bằng những cái mới, hiện đại, phù hợp với Phúc Aâm, với "thời đã mãn", với "triều đại Thiên Chúa đã gần" hơn.

Lời mời gọi: "Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng" của Ðức Giê-su cách đây hơn 2.000 năm vẫn là lời mời gọi của ngày hôm nay và dành riêng cho 1,6 tỷ người Công Giáo trên toàn thế giới, trong đó có 5.854.029 người Việt Nam ( theo báo cáo tình hình các Giáo Phận trong kỳ họp thường niên của Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam vào tháng 10.2002 ).

Ðể "sám hối" thì chúng ta phải biết hướng nhìn vào ai, quy chiếu vào đâu. Nhưng có không ít người không hề biết rằng điểm quy chiếu của Ki-tô hữu là chính Ðức Giê-su và Giáo Lý của Người; là giáo huấn của Công Ðồng Vatican 2, của các Tông Huấn của Ðức Gio-an Phao-lô 2 và của các Thư mục vụ ( hay Thư Chung ) của Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam.

Nếu như Sách Phúc Âm chúng ta ít khi đọc hay chẳng bao giờ đọc, các văn kiện của Công Ðồng Vatican 2 chúng ta không biết, các Tông Huấn của Ðức Thánh Cha chúng ta không màng, các Thư Mục vụ hay Thư Chung của các Giám Mục Việt Nam chúng ta không quan tâm... thì chúng ta quy chiếu vào đâu, đối chiếu với ai ? Cách giữ đạo dựa vào thói quen, tập quán, truyền thống gia đình hay xứ đạo, nặng tình cảm - dù là tình cảm tôn giáo cao đẹp - nặng hình thức phô trương, không còn đủ sức mạnh để giúp người giáo dân sống đạo trong thời đại ngày nay.

Ngày nay cần một cách sống đạo ý thức và trưởng thành, xác tín và dấn thân. Ðó là cách sống đạo không chỉ giới hạn trong nhà thờ mà còn trải rộng trong đời sống gia đình và xã hội. Nói cách khác người có đạo phải thể hiện đời sống đức tin bằng đời sống nội tâm gắn bó với Chúa, bằng cách chu toàn nhiệm vụ chuyên môn trong các bệnh viện, trường học, công sở, ngân hàng, nhà máy, siêu thị... và bằng cách tham gia vào việc hỗ trợ người nghèo, bảo vệ hòa bình và chống chiến tranh, bênh vực quyền con người và chống phân biệt đối xử, kỳ thị, bóc lột trong xã hội cũng như trên thế giới. Ðó là cách "sám hối và tin vào Tin Mừng" của ngày hôm nay !

III. SỐNG LỜI CHÚA

Sống Lời Chúa hôm nay chính là "nghiêm chỉnh kiểm điểm đời sống, đặc biệt chú ý đến Lời Chúa, lời soi sáng cuộc hành trình mỗi ngày của những kẻ tin" ( Sứ điệp Mùa Chay 2003 của Ðức Thánh Cha Gio-an Phao-lô 2, số 1 ).

IV. CẦU NGUYỆN VỚI LỜI CHÚA

Lạy Thiên Chúa là Cha, chúng con biết rằng: đáp lại lời mời gọi "Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng" của Chúa Giê-su, là chúng con phải tin vào Tình yêu Cứu độ của Cha và tin vào Ðức Giê-su Ki-tô mà Cha sai đến trong trần gian này. Xin Cha ban ơn cho chúng con để chúng con thực hiện được điều Cha ước muốn và chờ đợi ở chúng con.

Lạy Chúa Giê-su, chúng con biết rằng: đáp lại lời mời gọi "Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng" của Chúa, là chúng con phải luôn chiêm ngắm, khám phá và học cùng Chúa để chúng con thay đổi cách suy nghĩ và hành động của chúng con, phỏng theo cách suy nghĩ và hành động của Chúa. Xin Chúa ban ơn cho chúng con để chúng con thực hiện được điều Chúa ước muốn và chờ đợi ở chúng con.

Lạy Chúa Thánh Thần, chúng con biết rằng: đáp lại lời mời gọi "Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng" của Chúa Giê-su, là chúng con phải để cho Chúa hoạt động trong chúng con và biến đổi chúng con. Xin Chúa hãy canh tân đổi mới trái tim và khối óc chúng con để chúng con sống như Chúa Giê-su mời gọi và mong muốn. Amen.

Gs. Giê-rô-ni-mô NGUYỄN VĂN NỘI

SUY NIỆM 3:

VÀO HOANG ÐỊA

Ai yêu bóng đá đều say mê theo dõi những trận đấu đỉnh cao giữa các đội ngoại hạng Anh, hoặc giữa các đội tranh Cúp C1. Ta say mê vì các cầu thủ siêu hạng phô diễn kỹ thuật cá nhân điêu luyện, các đội bóng di chuyển chiến thuật kỳ ảo, các bài bản tinh vi của các huấn luyện viên bậc thầy, các pha phối hợp đẹp mắt giữa các cầu thủ. Không phải tự nhiên mà các cầu thủ chơi bóng giỏi đến mức độ nghệ thuật như thế. Họ phải mất nhiều thời gian tập luyện. Tập luyện để đạt được kỹ thuật cá nhân điêu luyện. Tập luyện để có thể lực dẻo dai. Tập luyện để có những xử lý thông minh theo tình huống. Tập luyện để hiểu nhau tiến đến những pha phối hợp nhịp nhàng ăn ý. Những buổi tập rất nghiêm ngặt, đòi hỏi cầu thủ phải có quyết tâm cao, có tinh thần kỷ luật nghiêm túc. Ai không chịu nổi các bài tập khó, sẽ bỏ cuộc. Ai vượt qua được những buổi tập nghiêm túc sẽ trở thành những cầu thủ giỏi.

Ðời sống tâm linh là một cuộc chiến đấu. Chiến đấu với ba thù: ma quỷ, xác thịt, thế gian. Ðể có đủ khả năng chiến đấu, ta phải được rèn luyện, phải trải qua những thử thách. Ðức Giê-su, sau khi chịu phép rửa, được Thánh Thần đưa vào hoang địa để chịu thử thách.

Hoang địa là nơi hoang vu không nhà không cửa, không người thân, không cây cối, tức là không có một tiện nghi tối thiểu nào, không có một nguồn trợ lực nào. Chỉ có cát đá, thú dữ, ma quỷ, tức là chỉ có những khó khăn thách đố bắt ta phải chiến đấu, phải đương đầu.

Cuộc chiến đấu thứ nhất mà Ðức Giê-su phải trải qua là cuộc chiến đấu với thiên nhiên. Người sống trong hoang địa phải chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt. Tại các sa mạc cát phủ, đêm thì lạnh thấu xương, ngày thì nóng như thiêu. Hầu như không có thực phẩm. Người sống trong hoang địa phải chịu đói, chịu khát, chịu cái nóng nung người, chịu cái lạnh cắt da, chịu tất cả mọi thiếu thốn của đời sống thường ngày. Xưa, dân Do-thái được Chúa đưa vào hoang địa để huấn luyện trước khi đưa họ vào Ðất Hứa. Trong hoang địa, người Do-thái không chịu nổi những thiếu thốn, nên đã nhiều lần nổi loạn chống lại Chúa, chống lại ông Mô-sê, muốn quay trở lại làm nô lệ bên Ai-cập để được ăn no ngủ kỹ.

Trái lại, tổ phụ áp-ra-ham đã chấp nhận vượt qua hoang địa, nên đã tới được Ðất Hứa, tiên tri Ê-li-a đã vượt qua hoang địa 40 đêm ngày, nên đã đi đến núi của Thiên Chúa. Và hôm nay, Ðức Giê-su đã thắng được cái lạnh, cái nóng và nhất là đã thắng được cái đói, cái khát, đã hoàn toàn làm chủ được bản thân trước những nhu cầu của thân xác.

Cuộc chiến đấu thứ hai mà Ðức Giê-su phải trải qua là cuộc chiến đấu chống lại ma quỷ. Thiên Chúa cho phép ma quỷ thử thách con người. Từ tạo thiên lập địa, hai ông bà nguyên tổ đã bị ma quỷ cám dỗ và đã thua cuộc. Ông thánh Gióp cũng đã bị ma quỷ thử thách, mất hết tài sản, mất hết con cái, mất hết danh dự. Nhờ kiên quyết trung thành với Chúa đến cùng, ông đã thắng được ma quỷ. Ðức Giê-su đã thắng vượt mọi cơn cám dỗ ma quỷ đưa tới nhờ Người vững lòng tin ở Thiên Chúa. Những cơn cám dỗ của ma quỷ thường là cám dỗ về đức tin. A-đam và E-và không vững lòng tin nên đã sa ngã. Ông thánh Gióp vững lòng tin nên luôn đứng vững qua mọi thử thách. Ðức Giê-su luôn vững niềm tin vào Chúa Cha, nên đã chiến thắng mọi cơn cám dỗ thâm độc nhất của ma quỷ.

Cuộc chiến đấu thứ ba mà Ðức Giê-su đã trải qua là cuộc chiến đấu từ bỏ ý riêng để tìm Thánh Ý Chúa Cha. Hai ông bà nguyên tổ đã tìm ý riêng hơn Ý Chúa, nên đã đi trệch đường. Ðức Giê-su luôn tìm Thánh Ý Chúa Cha, nên Người đã từ bỏ con đường kiêu căng để đi vào con đường khiêm nhường, từ bỏ con đường rộng để đi vào con đường hẹp, từ bỏ con đường dễ để đi vào con đường khó, từ bỏ con đường vinh quang để đi vào con đường thập giá, từ bỏ con đường giàu sang để đi vào con đường nghèo hèn, từ bỏ con đường riêng tư để đi vào con đường Chúa Cha đã định. Nên Người đã toàn thắng trong cuộc chiến đấu.

Hoang địa không phải chỉ là nơi thử thách. Hoang địa còn là nơi gặp gỡ Chúa. Sau khi đã thắng vượt tất cả các cuộc thử thách, ta sẽ gặp được Chúa, sẽ sống thân tình với Chúa và sẽ hoàn toàn thuộc về Chúa. Ông Mô-sê, sau 40 đêm ngày ở trên núi Xi-nai, đã trở nên bạn nghĩa thiết của Chúa. Mặt ông trở nên sáng láng đến nỗi dân Do-thái không dám nhìn thẳng vào. Ngôn Sứ Ê-li-a, sau khi đi 40 đêm ngày, đã tới núi của Chúa và đã gặp được Chúa. Ðức Giê-su đã gặp gỡ Chúa Cha, đã tìm được ý Chúa Cha và kết hiệp mật thiết với Chúa Cha đến độ từ nay Người trọn vẹn thuộc về Chúa Cha. Thánh Ý Chúa Cha trở thành kim chỉ nam hướng dẫn đời Người. Thi hành Thánh Ý Chúa Cha trở thành lương thực nuôi dưỡng Người. Người sẽ hi sinh tất cả, kể cả mạng sống để cho Thánh Ý Chúa Cha được nên trọn. Chính vì thế mà Ðức Giê-su đã được gọi là "Con yêu dấu" của Chúa Cha.

Trong Mùa Chay, Giáo Hội mời gọi ta hãy vào hoang địa với Ðức Giê-su để chịu thử thách, để rèn luyện đời sống tâm linh cho vững mạnh, kiên cường. Ta không có điều kiện để vào nơi hoang vắng, nhưng ta vẫn có thể vào hoang địa của cuộc đời.

Vào hoang địa của cuộc đời có nghĩa là sẵn sàng chấp nhận những khó khăn, thiếu thốn trong đời sống, dù đói nghèo vẫn giữ được tâm hồn tự do, không chịu nô lệ vật chất.

Vào hoang địa của cuộc đời có nghĩa là kiên cường chống trả mọi cơn cám dỗ ma quỷ đưa tới, luôn vững niềm tin vào Chúa dù gặp những khó khăn thử thách.

Vào hoang địa của cuộc đời có nghĩa là từ bỏ ý riêng để luôn tìm Thánh Ý Chúa, sẵn sàng thực hành thánh ý Chúa, dù có phải đau đớn, thiệt thòi.

Vào hoang địa của cuộc đời có nghĩa là giữ tâm hồn bình an thanh thản để gặp gỡ Chúa, tiếp xúc thân mật với Chúa, hoàn toàn thuộc về Chúa Cha để trở nên "con yêu dấu" của Chúa Cha.