TIN MỪNG: Lc 18, 9 – 14
Ðức Giê-su còn kể dụ ngôn sau đây với một số người tự hào
cho mình là công chính mà khinh chê người khác:
"Có hai người lên đền thờ cầu nguyện. Một người thuộc
nhóm Pha-ri-sêu, còn người kia làm nghề thu thuế. Người Pha-ri-sêu
đứng riêng một mình, cầu nguyện rằng: "Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn
Chúa, vì con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình,
hoặc như tên thu thuế kia. Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho
Chúa một phần mười thu nhập của con". Còn người thu thuế thì
đứng đằng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng vừa đấm
ngực vừa thưa rằng: "Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ
tội lỗi".
Tôi
nói cho các ông biết: người này, khi trở xuống mà về nhà, thì đã
được nên công chính rồi; còn người kia thì không. Vì phàm ai tôn mình
lên, sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên".
SUY NIỆM 1:
1. Tội và thân phận tội lỗi
Công bình mà xét thì người biệt phái ít tội
hơn người thu thuế.
Nhưng điểm đáng chú ý là người biệt phái
lại nói về tội lỗi nhiều hơn người thu thuế: hắn đã kể ra những
tội tham lam, bất chính, ngoại tình v.v. Tuy nhiên tất cả đều là… tội
của người khác ! Còn người thu thuế thì trái lại, tuy anh rất
nhiều tội, nhưng anh lại không kể các tội đó ra. Ðiều duy nhất anh
kể ra là "Con là kẻ tội lỗi. Lạy Chúa xin thương xót
con". Thực ra người biệt phái cũng có tội: tội tự mãn, tội
kiêu căng, tội khinh miệt người khác… Nhưng hắn không ý thức các
tội đó. Hắn không nhìn nhận mình là người tội lỗi. Hắn không biết
thân phận tội lỗi của mình.
Chúa Giê-su phê phán người biệt phái vì:
a/ Hắn chỉ nhìn thấy tội;
b/ chỉ nhìn thấy tội của người khác;
c/ hoàn toàn không thấy thân phận tội lỗi
của mình;
d/ hoàn toàn không thấy lòng thương xót của
Chúa.
Chúa Giê-su đề cao người thu thuế vì:
a/ Anh không những thấy tội mà còn thấy
thân phận tội lỗi của mình;
b/ Anh còn thấy được lòng thương xót của
Chúa nữa.
Cả hai người trên đều có thể thành bài
học cho chúng ta.
Trước hết, chúng ta cũng giống người biệt
phái. Chúng ta rất ý thức về tội lỗi của người khác nhưng lại
không ý thức về tội lỗi của chính mình. Chúng ta nói về tội của
người khác nhiều hơn về tội của mình. Ðiều này thật nguy hiểm, vì nó
ngăn cản không cho chúng ta nhìn thấy tội lỗi của mình.
Chúng ta cũng có thể học nơi người thu
thuế. Anh dạy chúng ta can đảm xưng thú những tội lỗi của mình. Anh
chỉ cho chúng ta thấy chúng ta là kẻ tội lỗi, kẻ mang thân phận tội
lỗi. Nhiều người đến tòa cáo giải với một bảng liệt kê các tội
đã phạm. Hầu hết các tội trong bảng liệt kê ấy đều không khác nhau
mấy từ lần xưng tội này đến lần xưng tội khác. Xưng xong rồi ra về
và mọi sự đều trở lại y như cũ. Việc xưng tội không giúp chúng ta
cải thiện con người bao nhiêu. Tại sao ? Vì chúng ta quá chú ý
đến các thứ tội mà không chú ý bao nhiêu đến thân phận tội lỗi
của mình.
Tội không chỉ là những việc làm xấu, mà
chủ yếu là tình trạng xấu ta đang sống. Vì thế điều cần thiết hơn
không phải chỉ là xin Chúa tha tội cho mình, mà là xin Chúa thương xót
cứu vớt mình khỏi tình trạng xấu ấy. "Một người tội lỗi ý
thức thân phận tội lỗi của mình còn tốt hơn một vị thánh ý thức
mình là thánh" ( Yiddish ).
2. Một tấm lòng tan nát khiêm cung
Trong xã hội Do-thái, ai cũng coi những
người thu thuế là những kẻ tội lỗi. Trong dụ ngôn này chính Chúa
Giê-su cũng coi như thế, và chính người thu thuế cũng tự coi như thế.
Nhưng người thu thuế này đã lên đền thờ cầu nguyện, nghĩa là anh có
thiện chí, anh muốn từ bỏ tội lỗi, anh muốn được tha.
Tuy nhiên khi xét lại quãng đời tội lỗi đã
qua, anh biết rằng anh không thể nào được tha: theo luật, một người
lỗi đức công bình nếu muốn được tha thì phải trả hết tiền, còn bồi
thường thêm 1 / 5 nữa. Anh làm sao nhớ hết những kẻ mà anh làm hại,
có nhớ cũng không có tiền để trả, huống chi lại thường thêm 1/5...
Lòng anh tan nát. Nhưng anh không tuyệt vọng: nếu theo luật, anh không
thể được tha thì anh sẽ kêu xin đến lòng thương xót của Chúa. Thế là
anh thốt lên: "Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ tội
lỗi".
Ðiểm đáng ta chú ý là anh thu thuế này đã
trích những tiếng đầu của Thánh vịnh 50 ( "Lạy Chúa xin xót
thương con theo lòng nhân hậu Chúa" ). Mà trong Thánh vịnh này
cũng có câu "Chúa gần gũi những tấm lòng tan nát khiêm
cung". Thiên Chúa đúng là như thế. Người thu thuế đã kêu đến
chính nơi phải kêu, chạm tới chính chỗ phải chạm. Vì vậy Chúa đã
thương xót anh, tha thứ tất cả cho anh, như lời Chúa Giê-su nói: "Ta
nói cho các ông biết: người này khi trở về thì đã nên công chính
rồi".
3. Lòng trí hướng về ai ?
Người biệt phái và người thu thuế đều lên
đền thờ và đều cầu nguyện. Nhưng lòng trí của mỗi người hướng đến
những hướng khác nhau. Lòng trí của người biệt phái hướng về
ai ?
- Trước hết là hướng về người khác: "Lạy
Chúa, con không như bao kẻ khác, tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc
như tên thu thuế kia"
- Ðồng thời lúc đó cũng hướng về bản thân
mình: "Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần
mười thu nhập của con"
- Nơi quan trọng nhất phải hướng về là
Thiên Chúa thì hắn lại bỏ qua !
Còn lòng trí người thu thuế thì hướng thẳng
về Thiên Chúa: "Lạy Thiên Chúa xin thương xót con là kẻ tội
lỗi".
Chúng ta dễ phạm lại sai lầm của người
biệt phái: khi cầu nguyện, lòng trí chúng ta hướng về những nhu cầu
ích kỷ của bản thân và than phiền về những điều khó chịu người khác
gây cho mình. Hãy học cầu nguyện như người thu thuế là hướng về
Chúa. Có nghĩ về mình là để ý thức thân phận tội lỗi của mình để
rồi càng hướng về Chúa nhiều hơn.
4. Ai là người công chính ?
Ngày kia, Khổng tử dẫn học trò từ nước Lỗ
sang nước Tề. Trong đám học trò có Nhan Hồi và Tử Lộ là hai môn
sinh được Khổng Tử sủng ái nhất. Thời Ðông Chu, loạn lạc khắp nơi
khiến dân chúng lâm cảnh lầm than đói khổ. Thầy trò Khổng Tử cũng
có nhiều ngày nhịn đói cầm hơi.
Ngày đầu tiên khi đến đất Tề, Khổng Tử và
các môn sinh được một người giàu có biếu cho một ít gạo. Khổng Tử
liền phân công: Tử Lộ và một số môn sinh khác vào rừng kiếm rau,
còn Nhan Hồi đảm nhận việc nấu cơm. Ðang khi nằm đọc sách ở nhà
trên, Khổng Tử bỗng nghe tiếng động ở nhà bếp, nhìn xuống, người bắt
gặp Nhan hồi đang mở vung xới cơm cho vào tay nắm lại từng nắm nhỏ
rồi từ từ đưa vào miệng. Thấy cảnh học trò đang ăn vụng, Khổng Tử
nhìn lên trời than thở: "Người học trò tín cẩn nhất của ta
lại là kẻ ăn vụng ?" Khi Tử Lộ và các môn sinh khác
trở về thì nồi cơm cũng vừa chín.
Khổng Tử cho tập họp tất cả lại và nói: "Bữa
cơm đầu tiên này trên đất Tề làm cho thầy chạnh lòng nhớ đến quê
hương. Thầy nhớ đến cha mẹ, cho nên muốn xới một bát cơm để cúng cha
mẹ, các con nghĩ có nên không ? Nhưng liệu nồi cơm này có sạch
chăng ?" Nhan Hồi liền chắp tay thưa: "Dạ thưa Thầy, nồi cơm
này không được sạch. Khi cơm vừa chín, con mở vung ra xem thử, chẳng
may một cơn gió tràn vào, bồ hóng bụi trần rơi xuống làm bẩn cả
nồi cơm, con đã nhanh tay đậy nồi cơm lại nhưng không kịp. Sau đó, con
định xới lớp cơm bẩn vất di, nhưng nghĩ rằng cơm ít mà anh em lại đông,
nên con đã ăn phần cơm ấy. Thưa Thầy, như vậy là hôm nay con đã ăn
cơm rồi." Nghe Nhan Hồi nói xong, Khổng Tử lại ngẩng mặt lên trời
mà than rằng: "Chao ôi ! Thế ra trên đời này có những việc
chính mắt mình trông thấy rành rành mà vẫn không hiểu được đúng sự
thật. Suýt nữa Khổng Tử này đã trở thành kẻ hồ đồ !"
Cho dù là bậc hiền triết như đức Khổng Tử
thế mà suýt nữa đã trở thành kẻ hồ đồ, suýt nữa đã phê phán
người học trò rất mực chân thật và khiêm tốn, sẵn sàng chịu thiệt
về phần mình để được lợi cho anh em. Ðó cũng là cám do rất thường
gặp nơi những người được xem là đạo đức thánh thiện, những người đã
đắc thủ được một số nhân đức nào đó, đã làm được nhiều việc lớn
lao, đã leo lên được chức vụ cao trong xã hội, đã đạt được một số
thành tích trong đạo ngoài đời. Họ dễ tự mãn và khinh rẻ người khác
lắm, nếu chẳng công khai thì cũng ngấm ngầm, lúc thì giấu được khi
thì lộ ra. Chuyện ấy thường tình lắm nên Ðức Giê-su mới nhắc nhở
tất cả chúng ta bằng dụ ngôn: "Người Pha-ri-sêu công chính và
người thu thuế tội lỗi".
Người Pha-ri-sêu lên Ðền Thờ cầu nguyện
nhưng thực ra là để khoe khoang thành tích. Ông thưa chuyện với Chúa
nhưng thực ra là ông đang độc thoại một mình. Ông "tạ ơn
Chúa" nhưng thực ra là ông muốn Chúa hãy biết ơn ông. Quả
thật, bảng liệt kê công trạng của ông không có gì sai. Những điều
luật cấm ông không dám làm, những điều luật buộc thì ông còn làm
hơn mức qui định. Ông thật là con người đúng mực, một con người hoàn
hảo, không có gì để chê trách, một tín đồ trung thành với lề luật,
một mẫu gương tuyệt vời.
Chỉ tiếc có một điều là ông quá tự mãn
tự kiêu nên bao việc lành phúc đức của ông theo "cái
tôi" bọt bèo của mình mà trôi ra sông ra biển hết. Cái tôi
của ông quá to, đến nỗi ông chỉ nhìn thấy mình mà không thấy Chúa;
công trạng của ông quá nhiều đến nỗi ông chỉ nhìn thấy nó là đức
độ của ông chứ không phải là do ơn Chúa; cái tự mãn của ông quá
lớn, cho nên ông thẳng thừng khinh miệt anh em.
Sai lầm trầm trọng của ông Pha-ri-sêu bắt
đầu từ câu này: "Vì con không như bao kẻ khác: tham lam, bất
chính, ngoại tình hoặc, như tên thu thuế kia" ( Lc 8, 11 ). Giá
như ông đừng so sánh cuộc sống của ông với người khác, mà biết đem
cuộc sống của mình đối chiếu với cuộc sống thánh thiện của Ðức
Ki-tô, thì ông sẽ nhận ra mình còn thiếu sót biết là bao nhiêu, mình
còn bất toàn biết là dường nào. Chính khi đó, ông mới cần đến lòng
nhân từ xót thương của Chúa, cần đến sự tha thứ và khoan dung của
Người. Chính lúc đó, ông mới biết cầu nguyện bằng những lời lẽ
chân thành và khiêm tốn của người thu thuế: "Lạy Thiên Chúa,
xin thương xót con là kẻ tội lỗi" ( Lc 18, 13 ).
Sai lầm căn bản của người Pha-ri-sêu còn ở
chỗ ông đã không nhận ra sự công chính là một ân huệ của Chúa ban
( Pl 3, 9 ) chứ không phải tự ông mà có, tự ông tuân giữ hoàn hảo các lề luật được.
Chính khi tự mãn thiếu khiêm tốn, và nhận sự công chính ấy là của
riêng mình thì ngay lúc đó ông đã mất ơn nghĩa với Chúa và không còn
công chính nữa.
Người thu thuế nhận mình lầm rỗi, ông biết
rõ tội mình vô phương cứu chữa, chẳng dám ngước mắt nhìn lên, chỉ
biết đấm ngực ăn năn và kêu xin lòng thương xót Chúa. Ông bất lực
hoàn toàn, chỉ phó thác cho lòng Chúa khoan dung. Ngay lúc đó, ông đã
trở nên công chính bên trong. Chính tâm tình ấy mà Chúa đã nhìn xuống
và làm cho ông nên công chính. Như thế, những kẻ cho mình là thánh
thiện, là đầy đủ, thì sẽ trở về con số không; còn những kẻ nhận
mình là không thì sẽ đủ chỗ cho Ðấng Vô Cùng. Vì phàm "Ai tôn
mình lên sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên"
( Lc 18, 14 ).
"Lạy Chúa, chúng con có là gì mà chẳng do
lòng Chúa thương ban. Xin cho chúng con biết khiêm tốn nhận mình thiếu
sót lỗi lầm, để được Chúa xót thương tha thứ. Xin cho cuộc sống
chúng con luôn biết rập theo khuôn mẫu thánh thiện của Ðức Ki tô là
Ðấng Công Chính tuyệt đối. Amen." ( Thiên Phúc, "Như Thầy đã yêu", năm C )
Nếu người biệt phái có quyền thì chắc hẳn
hắn đã không cho người thu thuế vào đền thờ. Nhiều người trong chúng
ta cũng nghĩ rằng những kẻ tội lỗi không được đến Nhà Thờ: tội lỗi
mà đến Nhà Thờ làm chi ? Chỉ là giả hình ! Nhà Thờ là nơi
dành cho những người đạo đức thánh thiện. Nếu như thế thì Nhà Thờ
sẽ rất nhỏ hẹp. Tưởng tượng xem
một tiệm sửa giày mà chỉ nhận những đôi giày còn tốt thì có còn
là tiệm sửa giày không ! Một bệnh viện mà chỉ nhận những người
khoẻ mạnh thì có còn là bệnh viện không !
"Chúng ta
đến Nhà Thờ không phải vì chúng ta xứng đáng mà vì chúng ta cần.
Chúng ta cần được lòng thương xót Chúa chữa trị, và chúng ta cũng
cần sự nâng đỡ của anh chị em trong cộng đoàn." ( Flor McCarthy )
SUY NIỆM 2:
LÒNG KHIÊM NHƯỜNG
CHÂN THÀNH
Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay nhấn mạnh đến giá trị
tuyệt hảo của đức khiêm nhường. Ðối với các nhà tu đức, nhân đức
khiêm nhường được coi như bàn tay rắn chắc nâng đỡ mâm ly nhân đức,
nhân bản của con người. Riêng đối với Ðức Ki-tô, Ngài đánh giá đức
khiêm nhường đích thực như thế nào ?
Hình ảnh tương phản giữa luật sĩ và thu thuế, đã
nói lên ngụ ý của Ðức Ki-tô: đó là thái độ tự hạ sâu thẳm của
người thu thuế. Ông tự nhận mình là kẻ tội lỗi, đớn hèn. "Còn
người thu thuế thì đứng đàng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên
trời, nhưng vừa đấm ngực vừa thưa rằng: Lạy Thiên Chúa, xin thương
xót con là kẻ tội lỗi." ( Lc 18, 13 ). Trong âm thầm, ông đã nhận
ông thật như ông đáng là.
Một điều chắc chắn là Ðức Giê-su Ki-tô chẳng
khuyến khích chúng ta sống bê tha, tội lỗi để có cơ hội sống tự hạ.
Tự hạ không dừng lại ở mặt tiêu cực: nhìn nhận những lầm lỗi.
Nhưng đúng nghĩa hơn, bên trong sự tự hạ là cảm nhận sâu xa vai trò
thụ tạo của chính mình, và xác tín vai trò tạo hoá quyền uy cùng với
lòng xót thương từ ái của Thiên Chúa. Cảm nghiệm này tuy khó đón
nhận, nhưng nó rất hợp lý, vì thử hỏi trong chúng ta, ai có khả năng
chọn cho mình một mái ấm gia đình vừa ý để mình chào đời. Hay tự định
đoạt tài năng, cơ hội thuận lợi cho bước đường công danh mà gạt bỏ
sang bên lề những giới hạn phận người.
Thật vậy, đời người, phận người chẳng đơn thuần do một mình tôi
khiến tạo nên. Khổng tử có dạy "Thiên địa nhân hòa". Cuộc
sống chịu sự chi phối của vũ trụ, của ngoại vật.
Do đó, chúng ta có trách vụ sống an hoà ngay từ
tại tâm. Nghĩa là chúng ta tìm hạnh phúc qua cung cách sống nhã nhặn
với môi trường quanh mình, như khám phá ra những hồng ân của Thiên
Chúa ban trên người thân cận. Chẳng lấy mình làm chuẩn mực để bình
phẩm tha nhân như người thu thuế. Là biết nỗ lực tận dụng ơn lộc
Chúa ban xây dựng tình huynh đệ đại đồng "Không ai nên thánh một
mình". Vâng, chỉ khi nào chúng ta mang lấy chiều kích đích thực của
chúng ta, lúc đó chúng ta mới bước vào trong tình huynh đệ phổ quát.
Khi ấy, chúng ta không xem ai là thấp hơn mình, vì đã nhìn ra sự nhỏ
bé của bản thân và trở nên khiêm nhường hiền lành.
Lạy Chúa, chúng con là thụ tạo bé nhỏ, khác nào
những hạt cát bé nhỏ đang ẩn mình sau những bức tường hùng vĩ của
tòa nhà Giáo Hội. Và tự thâm tâm chúng con chẳng có điều chi để
tự hãnh diện về mình. Có chăng là tấm chân tình tri ân Thiên Chúa
hằng đoái thương chúng con, cùng xin Ngài tiếp tục dạy dỗ, đỡ nâng
đoàn con thi hành trọn vẹn bổn phận của những đứaa con bé nhỏ trong
đại gia đình Giáo Hội, xã hội thân yêu này.
SUY NIỆM 3:
Cũng như Chúa
Nhật trước, Chúa Nhật hôm nay Ðức Ki-tô dạy chúng ta phải biết cầu
nguyện như thế nào. Chúa Nhật trước, Ngài dạy chúng ta phải noi gương
bà góa nghèo kia mà cầu nguyện cho kiên trì. Hôm nay Ngài dạy chúng
ta phải noi gương người thu thuế mà cầu nguyện cho khiêm nhượng. Chúng
ta biết rằng người Do-thái cầu nguyện một ngày 3 lần: 9 giờ sáng, 12
giờ trưa, và 3 giờ chiều. Lời cầu nguyện được coi là hiệu nghiệm hơn
hết là lời cầu nguyện dâng trong Ðền Thờ.
Hôm
nay Chúa dạy dưới hình thức dụ ngôn. Có hai người Do-thái cùng lên
Ðền Thờ cầu nguyện. Một người là biệt phái ( mà chúng ta quen gọi
là Pha-ri-siêu. Người kia là người thu thuế ( chúng ta thường gọi là
Pu-bli-ca-nô ). Nhóm Pha-ri-siêu được gọi là biệt phái, vì họ tự
đứng biệt lập ra thành một phái riêng. Họ là hạng người được coi
là đáng kính, đạo đức. Trong dân chúng, họ là lớp người ưu tú. Họ
giữ luật Chúa rất tỉ mỉ. Nhưng do chỗ giữ luật tỉ mỉ, và được kẻ
khác coi là thánh thiện, mà có những người trong nhóm, họ sinh ra tự
cao tự đại đối với những người chung quanh.
Trong
dụ ngôn hôm nay, một người biệt phái như vậy lên Ðền Thờ cầu
nguyện cùng một trật với một người thu thuế. Hạng người sau nầy bị
dân chúng coi như ngược lại với người biệt phái. Người biệt phái
được coi là thánh thiện, thì người thu thuế bị coi là tội lỗi.
Hồi
đó, dân Do-thái bị người Rô-ma đô hộ. Chính phủ độ hộ không tự tổ
chức thu thuế lấy, như chúng ta thấy ở Hoa kỳ chẳng hạn. Nhưng họ cho
đấu thầu. Ðã thầu thì ai thầu cao nhứt, sẽ được độc quyền thu thuế.
Dĩ nhiên hạng người thu thuế nầy bị dân chúng gớm ghét và coi là
hạng người tội lỗi. Tội lỗi phép công bằng. Tội bóc lột, làm giàu
trên xương máu đồng bào. Tội làm tay sai cho chính quyền ngoại bang
Rô-ma.
Vậy
hôm nay có hai người cùng lên Ðền Thờ cầu nguyện. Một là biệt
phái, một là thu thuế. Người biệt phái đứng thẳng người lên cầu
nguyện rằng: "Lạy Chúa con cám tạ Chúa, vì con không giống như
những người khác, gian tham, bất công, ngoại tình. Không giống như tên
thu thuế đứng kia. Con ăn chay mỗi tuần hai lần, và dâng cúng vào
Ðền Thờ một phần mười tất cả các hoa lợi của con."
Luật Do-thái
chỉ buộc ăn chay một năm một lần trong ngày lễ đền tội. Nhưng có người
đạo đức ăn chay trường, mỗi tuần hai lần, trong ngày thứ Hai và ngày
thứ Năm. Chúng ta biết rằng hai ngày nầy là hai ngày chợ tại
Giê-ru-sa-lem. Nhiều nơi, như tại các vùng quê bên Việt Nam ta, không
có những nơi bán thức phẩm thường xuyên, không có các siêu thị sẵn
sàng mỗi ngày. Dân chúng chỉ nhóm chợ một vài ngày trong tuần. Một
vài ngày trong tuần, họ mang rau cỏ, trái trăng, thịt cá, lúa gạo...
ra chợ bán. Và ngày đó mới ngày chợ.
Ở Giê-ru-sa-lem, hai ngày mà người Do-thái đạo đức quen ăn chay cũng
là hai ngày chợ. Dân chúng lên nhóm chợ chung quanh Ðền Thờ rất
đông. Những người ăn chay lên đó, đi qua giữa đám đông, mặt mày xanh
xao tiều tụy, áo quần lếch thếch. Ai cũng phải chú ý đến họ. Và
trong số nầy, có ông biệt phái của dụ ngôn hôm nay.
Người
Do-thái phải dâng vào Ðền Thờ một phần mười hoa lợi ruộng đất của
mình. ( Ðnl 14, 22 ). Ông biệt phái hôm nay thì dâng vào Ðền Thờ một
phần mười về tất cả mọi thứ hoa lợi, dầu những thứ hoa lợi Luật
không buộc đóng thuế.
Ông
quả là tốt lành, đại lượng. Ông chỉ có cái tội nầy là tự phụ,
khoe khoang và khinh người. Ông lên Ðền Thờ nói là cầu nguyện, nhưng
không phải cầu nguyện cùng Chúa, mà cầu nguyện với chính mình. Nói
cách khác, không phải để chúc tụng ngợi khen Chúa, mà để chúc tụng
ngợi khen mình.
"Lạy Chúa,
con không tham lam, bất công, ngoại tình. Con không như tên tội lỗi thu
thuế kia đâu. Con ăn chay mỗi tuần những hai lần. Con dâng vào Ðền
Thờ một phần mười tất cả mọi thứ hoa lợi của con."
Rõ ràng ông không van xin ơn gì cùng Chúa cả. Ông chỉ chúc tụng mình.
Ông lên Ðền Thờ là để dùng nhà Chúa làm diễn đàn, tự tuyên dương
công trạng. Ông tự cho mình là người thánh thiện, tự trưng bày công
nghiệp và nhân đức của mình, với mục đích là thóa mạ, phỉ báng, lên
án người cùng lên Ðền Thờ cầu nguyện với mình. Ông biệt phái hôm
nay giống hệt thầy Rabbi Simeon ben Jocai. Có lần thầy đã tuyên bố:
"Nếu trên thế giới có hai người công chính, thì đó là tôi và con
tôi. Nếu chỉ có một người công chính, thì người đó chính là tôi."
Có người biệt phái nào dám khoe khoang trước bàn thờ Chúa
như ông biệt phái hôm nay chăng ? Dẫu sao Ðức Yê-su đã muốn làm nỗi
bật giáo huấn của Ngài để chúng ta khó quên dễ nhớ. Lời cầu
nguyện chỉ dâng lên cho Chúa, không dâng lên cho ai khác. Lại càng
không được dâng lên cho chính mình, như kiểu ông biệt phái hôm nay.
Ðó là tôn thờ mình. Kẻ tôn thờ mình thì phạm tội kiêu căng, trùm
của Bảy mối tội. Ðã phạm tội kiêu căng thì lời cầu nguyện ấy
không thể đẹp lòng Chúa được.
Còn người thu
thuế, nhân vật thứ hai trong bài dụ ngôn hôm nay, thì sao ? Anh đứng
cuối cửa Ðền Thờ, cúi mặt xuống, đấm ngực, thưa lên cùng Chúa:
"Lạy Chúa, xin thương con là đứa tội lỗi." Anh tự biết mình là người
tội lỗi, khốn nạn. Nhưng anh cũng biết Thiên Chúa là Ðấng nhân
lành, đầy tình thương xót. Và anh kêu cầu lòng thương xót Ngài thứ
tha cho anh. Anh không dùng ngôn từ quyền thế của người cậy có công
lênh, nhưng dùng lời lẽ khiêm nhu của người muốn cải thiện.
Và
Ðức Giê-su đã kết luận rằng: "Khi về nhà, người thu thuế trở nên
công chính. Còn người biệt phái thì trước sao sau vậy ?" Hơn nữa,
ông mắc thêm tội. Tội tôn thờ chính mình. Tội kiêu căng, khinh miệt
kẻ khác ngay trước mặt Thiên Chúa.
Bài
dụ ngôn hôm nay dạy chúng ta những điều sau đây về sự cầu nguyện.
Trước
hết, khi cầu nguyện, đối tượng tôi phải so sánh là chính Thiên Chúa,
chứ không phải ai khác, hoặc chính mình tôi. Nếu thay vì nhìn vào chính
mình, tôi nhìn vào Thiên Chúa là Ðấng tốt lành cao cả vô cùng, tôi
mới thấy mình thấp kém, hèn hạ, tội lỗi như thế nào. Một đấng
thánh vĩ đại như Thánh Phao-lô mà đã tự nhận mình là kẻ thấp kém
nhất ( 1 Cr 15, 9 ), vì "yếu đuối" ( 2 Cr 12, 9 ) đã bắt đạo và
ngạo ngược( 1 Tim 1, 13; Gl 1, 13 ). Thánh Vinh-sơn Phao-lô, một ngôi sao
chói lọi trong công việc bái ái từ thiện, mà tự gọi mình là người "thấp
hèn nhứt trên thế gian." Cầu nguyện không phải là dâng kiến nghị
đòi hỏi, nhưng là cậy trông và phú thc vào Chúa Quang phòng, đại
lưỡng vô song, khôn ngoan vô cùng.
Thứ đến, khi cầu nguyện, tôi không được
tự cho mình là hơn kẻ khác. Tôi phải luôn luôn nhớ rằng tôi thuộc
về đoàn lũ đông đảo những kẻ có tội, được Con Thiên Chúa đổ máu
ra trên thập giá để cứu chuộc cho. Người tự cao tự đại không thể
cầu nguyện được. Cửa thiên đàng hẹp và thấp, chỉ quỳ xuống, đi bằng
đầu gối, mới vào được.
Tại
Ðền Thờ thánh Phê-rô ở Rô-ma, có một bức tượng Chúa chịu nạn do
Thorvaldsen ( 1770 – 1844 ), nhà điêu khắc Ðan-mạch nổi tiếng thực
hiện. Ngày kia, một du khách đến viếng bức tượng. Ông ta nhìn mãi,
rồi lắc đầu nói: "Tôi nghe đồn bức tượng nầy nổi tiếng là đẹp
lắm. Nhưng tôi chẳng thấy gì là đẹp cả." Một người quỳ sau lưng
ông, nói: "Ông phải quỳ gối xuống mới thấy đẹp." Ông du
khách quỳ gối xuống. Bấy giờ ông mới khám phá ra vẻ đẹp lôi cuốn
của bức tượng Chúa chịu nạn.
Muốn
đến gần Chúa, muốn được Chúa dủ tình thương xót, tôi cũng phải quỳ
gối xuống mà van xin.
SUY NIỆM 4:
HAI MẪU NGƯỜI
Có một giáo
huấn rất quan trọng thường được Chúa Giê-su đề cập nhiều lần trong
Tin Mừng và hôm nay, giáo huấn đó một lần nữa được nhắc lại để
răn dạy chúng ta. Ðó là: "Phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống;
còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên". ( Lc 18, 14. Lc 14, 11. Mt
23, 12 )
Ðể minh hoạ cho bài học của mình, Ðức Giê-su kể lại câu
chuyện: Có hai người lên đền thờ cầu nguyện: Một người biệt phái
là hạng người có tiếng đạo đức, giữ luật rất nghiêm và một người
thu thuế vốn mang tiếng là người tội lỗi.
Người
biệt phái này tỏ ra rất tự phụ, vênh vang phô trương công đức của
mình. Ông tự cho mình ngon lành, đạo đức quá đỗi nên có cần gì đến
Chúa nữa đâu ! Oâng đâu có cầu khẩn hay cậy nhờ gì Chúa ! Ông tự
đặt mình lên trên những người khác: "Xin tạ ơn Chúa vì con không
như bao kẻ khác, không tham lam, không bất chính, không ngoại tình,
không như tên thu thuế kia !"
Rồi
ông phô trương thành tích đạo đức của mình: "Con ăn chay mỗi tuần
hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con". Quả
là ông này có nhiều thành tích tốt lành ít ai bì kịp. Thế nhưng Thiên
Chúa chê bỏ ông vì thái độ tự kiêu của ông. Ông ta như chiếc bình
đầy tràn, đầy kiêu căng tự phụ, nên chẳng còn chỗ nào cho Chúa rót
thêm.
Trong
khi đó, người thu thuế vốn biết thân biết phận tội lỗi của mình nên
chỉ đứng ở đằng xa, thậm chí không dám ngước mặt lên, chỉ biết đấm
ngực mà nguyện rằng: "Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ
tội lỗi". Anh này đến với Chúa như một chiếc bình trống rỗng,
nghĩa là với lòng thống hối khiêm cung và tha thiết cầu xin Thiên
Chúa tha lỗi… nên anh đã được Thiên Chúa đổ đầy. Tấm lòng chân
thành và khiêm tốn của anh đã giúp anh nhận được ơn tha thứ và dồi
dào tình thương của Thiên Chúa.
Với
dụ ngôn này, Chúa Giê-su ghi sâu bài học đáng nhớ này vào tâm
khảm chúng ta: "Phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình
xuống sẽ được tôn lên."
Về điểm này, nhiều bậc thánh hiền đông phương cũng có
cùng quan điểm với Chúa Giê-su. Một hôm Ðức Khổng Tử vào thăm miếu
của vua Hoàn Công, nước Lỗ, thấy có cái lọ đứng nghiêng. Ngài nói:
"Ta nghe nói vua Hoàn Công có một vật quý để dạy đời. Bỏ không
thì nghiêng, đổ nước vào vừa phải thì đứng; nếu đổ đầy tràn thì đổ
nhào. Vậy vật ấy có phải là cái lọ này không ? Rồi ngài sai học
trò đổ nước vào. Quả nhiên đổ đầy quá thì lọ đổ, bỏ không thì
nghiêng, đổ vừa phải thì lọ đứng." ( Trích lại từ Góp Nhặt A )
Như vậy, ai tự nâng mình lên, tự làm cho mình đầy tràn...
thì sẽ phải sụp đổ vậy. Quy luật cuộc đời là như thế. "Mặt trời đứng bóng rồi
phải xế, trăng tròn rồi sẽ khuyết, vật gì thịnh lắm rồi cũng phải
suy" (
Thái Trạch ) Và: "Cái gì đầy rồi sẽ phải đổ vậy" ( Khổng Tử
). Thế nên, Lão tử khuyên chúng ta: "Thông minh duệ trí, thủ chi dĩ
ngu, dũng lực chấn thế, thủ chi dĩ khiếp".
Bậc
thông minh duệ trí thì nên làm cho vơi bớt bằng khiêm nhường, tỏ ra
ngu khờ dại dột… mới được an toàn; bậc anh hào có sức mạnh chấn
động thế giới thì cũng đừng phô trương mà rước hoạ vào thân nhưng
hãy làm cho vơi đi bằng cách sống hạ mình như người yếu đuối, nhát
sợ.
Chúa
Giê-su đã minh chứng cho lời Ngài dạy bằng chính đời sống vô cùng
khiêm hạ của Ngài. Tiến trình hạ mình, tự huỷ và được vinh thăng
của Chúa Giê-su đã được thánh Phao-lô tóm gọn trong thư gửi cho
Phi-lip-phê: " Ðức
Giê-su Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy
trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh
quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người
trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng
chịu chết, chết trên cây thập tự. Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu
tôn Người... và mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: "Ðức
Giê-su Ki-tô là Chúa". ( Pl 2, 6 – 11 )
Ngoài
ra, mẹ Tê-rê-xa Calcutta trong thời đại chúng ta, người đã tự nguyện
trở nên tôi tớ thấp hèn của rất nhiều người khốn khổ đau thương
nên mẹ trở thành người được mộ mến nhất trên hành tinh này, là
một minh chứng hùng hồn nhất cho lời dạy của Chúa Giê-su: "Ai hạ
mình xuống sẽ được tôn lên".
Lạy
Chúa Giê-su, Chúa đã chứng thực những lời Chúa dạy bằng chính cuộc
sống của Ngài. Lời Chúa cũng đã thành hiện thực nơi mẹ Tê-rê-xa
thành Calcutta. Xin cho lời Chúa cũng được thể hiện nơi đời sống
chúng con hôm nay. Amen.
Linh
mục I-nha-xi-ô TRẦN NGÀ
SUY NIỆM 5:
XIN THA THỨ
Ðức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II nhấn mạnh trong
tài liệu "Mea culpa": "Cần phải xin ơn tha thứ – vì mối giây liên
hệ nối kết chúng ta tất cả trong Nhiệm Thể – cho dù không có trách
nhiệm cá nhân của chúng ta trong đó, nhưng vì chúng ta mang gánh nặng
của những lầm lỗi của những người đã đi trước chúng ta và cả chúng
ta nữa chúng ta đã phạm tội. Vì thế, trong sự công nhận khiêm tốn
các lỗi lầm riêng mình và của người khác, các tín hữu Kitô được
mời gọi lãnh nhận trên mình, trước mặt Thiên Chúa và trước mặt
những ai đã bị xúc phạm, về tội lỗi và các thiếu sót mà chính mình
đã vướng mắc vào. Chúng ta xin tha thứ với Thiên Chúa và với những
người bị xúc phạm bởi những cách ăn ở sai lầm: và việc xin tha thứ
này bao gồm cả "thanh luyện hóa ký ức". Trong khi công nhận và
xin tha thứ các tội lỗi, chúng ta giải thoát chính chúng ta và người
khác khỏi gánh nặng và những hậu quả hiện vẫn còn lại của tội
lỗi, dù những tội này đã phạm trong quá khứ, để làm cho công việc
đối thoại và hòa giải trở nên dễ dàng hơn."
Người Pha-ri-sêu hôm nay đã không nhận ra tội của
mình mà lại nhận ra của người khác. Cái sai lầm của người Pha-ri-sêu
là đã tự nhận mình là người đạo đức, cái đạo đức làm tiêu chuẩn
cho người khác. Rất dễ lấy mình làm mẫu, càng làm lớn càng dễ mắc
tật này, người Pha-ri-sêu thời đức Giê-su, là người có nhiều uy tín
trong dân, họ được trọng vọng vì địa vị đứng đầu trong dân. Tiếc thay,
người Pha-ri-sêu lầm tưởng làm đầu cũng làm mẫu cho dân noi theo.
Ðặt mình làm tiêu chuẩn nên không còn thấy chỗ
đứng tầm thường của người khác, đặt mình làm tiêu chuẩn nên cũng
tự nhận mình là mẫu mực cho dân. Từ chỗ sai lầm ấy, người
Pha-ri-sêu thấy chung quanh mình chỉ toàn những kẻ mê lầm, tội lỗi,
họ tự tách riêng ra khỏi đám dân tầm thường. Người Pha-ri-sêu lên
án người khác để tô điểm công lao của mình, theo cách đó là dẫm
lên người khác để đi lên, hy sinh tính mạng người khác để củng cố
địa vị của mình. Người Pha-ri-sêu không dừng lại ở việc lên án mà
còn tự mãn về những gì mình có, của cải, vật chất, danh vọng, địa vị
chỉ tiếc rằng thiếu tự mãn về tình thương.
Người thu thuế thì đơn giản hơn bởi chẳng có gì để
tự mãn, chỉ thấy mình cần được thương xót. Thấy mình cần được thương
xót là thấy mình cần hoán cải bởi nhận ra thiếu sót. Người nhận ra
thiếu sót của mình xứng đáng là con người. Con người vốn không thập
toàn, nên cũng cần sám hối.
The missing piece của
Shel Silverstein. Nó kể câu chuyện về một chiếc vòng bị cắt đi một
mảnh hình tam giác. Cái vòng muốn được trọn vẹn, không thiếu mẩu
nhỏ nào nên lang thang tìm kiếm mảnh thất lạc. Nhưng bởi vì nó không
hoàn hảo nên chỉ có thể lăn đi rất chậm. Nó chiêm ngưỡng những
bông hoa trên đường. Nó tán gẫu với những con sâu. Nó tận hưởng
ánh nắng mặt trời. Nó đã thấy rất nhiều những mảnh vỡ khác nhau
nhưng không có cái nào là vừa với nó. Và nó để tất cả lại bên
đường rồi tiếp tục cuộc tìm kiếm.
Rồi
một ngày kia, chiếc vòng tìm thấy một mảnh rất vừa vặn. Thật là
hạnh phúc. Giờ đây nó có thể toàn vẹn, không thiếu chút gì. Nó
lắp lại cái mẩu đã mất và bắt đầu lăn. Bây giờ, nó đã là một
cái vòng thật hoàn hảo, nó có thể lăn rất nhanh, quá nhanh để có
thể lưu ý tới những bông hoa và nói chuyện cùng lũ sâu. Và khi nó
nhận ra thế giới đổi khác như thế nào khi lăn nhanh quá, nó dừng
lại, vứt mảnh vỡ vừa tìm được lại bên đường và tiếp tục lăn đi
chậm rãi.
Câu chuyện mang lại một
bài học khá kỳ lạ: chúng ta càng trở nên toàn vẹn hơn khi chúng ta
mất đi hay bỏ lỡ một cái gì đó. Trên một phương diện nào đó, một
người có tất cả mọi thứ là một người đáng thương. Anh ta sẽ không
bao giờ có được niềm thích thú để khát khao, để hy vọng và nuôi
dưỡng tâm hồn mình bằng những mơ ước về một điều tốt đẹp hơn. Anh ta
cũng sẽ không bao giờ có được cái cảm giác được một ai đó yêu
thương, cho anh ta những cái anh ta luôn luôn mong muốn mà không bao
giờ có. Một con người muốn nên toàn vẹn là người nhận thức được
những hạn chế của mình, là người có đủ can đảm từ bỏ những giấc mơ
viễn vông của mình mà không cảm thấy đó là một sự thất bại. Một
con người muốn nên toàn vẹn là người biết rằng họ có đủ sức mạnh
để vượt qua những thảm kịch và tồn tại, là người có thể thất bại
mà vẫn cảm thấy bình an. Mình đã thoát khỏi điều tồi tệ nhất mà
vẫn nguyên vẹn ước muốn.
Con người hạnh phúc là
con người nhìn thấy sự khiếm khuyết của mình, họ thấy cần một nỗ
lực để chinh phục, để rồi thành công. Con người là "nhân vô thập
toàn", như vậy là con người hạnh phúc. Hạnh phúc nằm trong chỗ
vô thập toàn, để hoàn thiện mãi mãi và không ngừng đi lên.
Ðiều
mà cuộc sống đòi hỏi ở chúng ta là "hãy nên hoàn hảo, như Cha
là Ðấng ngự trên trời", không phải là "đừng bao giờ mắc sai
lầm", mà là "hãy nên hoàn hảo".
Và
cuối cùng, nếu chúng ta đủ dũng cảm để yêu, đủ mạnh mẽ để tha
thứ, đủ rộng lượng để vui mừng vì hạnh phúc của những người khác,
và đủ khôn ngoan để hiểu rằng hạnh phúc có cho tất cả mọi người,
chúng ta sẽ hạnh phúc.
CHỨNG TỪ:
CAN
ÐẢM NHẬN MÌNH LÀ KẺ CÓ TỘI
Mahatma Gandhi, vị lãnh đạo chính trị với tinh thần đấu tranh bất
bạo động lừng danh của Ấn-độ, đã kể lại mẩu chuyện của đời ông:
"Tôi phạm tội ăn cắp khi lên
15 tuổi. Vì mắc nợ, tôi đã lấy trộm chiếc vòng bằng vàng của ba
tôi để trả nợ. Nhưng tôi không thể nào chịu được sự ray rứt trong
tâm hồn. Dù thế, vì quá mắc cỡ, tôi không thể nào mở miệng nói
sự thật với ba tôi. Tôi đã viết lời thú tội vào một tờ giấy.
Toàn thân tôi run rẩy khi tôi trao miếng giấy này cho ba tôi. Ông đã
đọc, nhắm mắt lại một lúc và sau đó xé miếng giấy đi. Ông khẽ nói
và choàng tay ôm tôi: "Tốt lắm !" Từ ngày đó, tôi lại càng yêu ba
tôi hơn nữa."
CÂU TRUYỆN:
TỰ MÃN VÌ ÐẠO ÐỨC
Có một người giáo dân rất đạo đức, giữ
chức Quản Giáo, thành viên nhiệt thành trong Ban Hành Giáo của một
Giáo Xứ nông thôn miền Bắc. Ngày nào cũng thế, vừa nghe tiếng
chuông Nhà Thờ lúc tinh mơ, ông đã vội thức dậy sửa soạn đi lễ đọc
kinh thật sốt sắng.
Thế rồi một hôm, vì trong nhà có việc giỗ chạp bận rộn tíu
tít, vừa xong xuôi mọi việc, ông mê mệt quá nên ngủ quên mất. Quỷ
Xa-tan bèn hiện ra lay gọi ông dậy.
Ðang còn ngái ngủ, trông thấy quỷ đang đứng bên giường mình để
đánh thức, ông dụi mắt tò mò thắc mắc ngay: "Ơ hay, thằng quỷ ! Mày mà lại đi đánh thức tao dậy đi lễ ư ?
Sao mày lại tốt bụng và đạo đức thế nhỉ ? Chẳng lẽ tao lại phải
cám ơn mày à ?" Thằng quỷ ôn tồn bảo ông Quản Giáo: "Tôi là ai, không quan trọng ! Việc
tôi đánh thức ông dậy là việc tốt. Ai làm việc tốt thì cũng đều
là người tốt cả, ông khỏi phải thắc mắc bận tâm làm gì !"
Ông Quản Giáo nghe vậy liền quát hỏi: "Nhân danh Thiên Chúa, tao buộc mày phải nói, tại sao mày là
quỷ mà lại chịu khó đánh thức tao dậy sớm đúng giờ đi lễ ? Ðúng lý
mày phải khoái chí thấy tao bê trễ chuyện Nhà Thờ Nhà Thánh mới
phải chứ ?"
Xa-tan đành phải giải thích: "Sự
tình là thế này, nếu thỉnh thoảng ông lại ngủ quên, bỏ đọc kinh xem
lễ Nhà Thờ, hoặc phạm một tội nào đó, chắc chắn một người đạo
đức như ông sẽ lại áy náy ăn năn, khiêm tốn nhận ra mình hèn yếu.
Từ đó ông sẽ cố gắng sửa chữa, giữ Ðạo và sống Ðạo tốt hơn, vậy
là tôi thua ! Nhưng nếu như ngày nào ông cũng sốt sắng đạo đức,
chẳng bao giờ phạm bất cứ một lỗi lầm nhỏ nào, rồi sẽ có lúc ông
đâm ra tự mãn kiêu ngạo, ngỡ mình là đạo đức số một, khi ấy thì...
ha ha !"
Nói đến đây, thằng quỷ biến mất, tiếng cười lưu manh vẫn còn
vọng lại thật ghê rợn. Ông Quản Giáo giật mình choàng tỉnh, hóa ra
đó chỉ là một cơn ác mộng, một cơn ác mộng dành cho một người đạo
đức...
TÀI LIỆU VỀ CÁC NGÀY LỄ 1.11 VÀ 2.11:
Ðể góp phần tìm
hiểu ý nghĩa Phụng Vụ trong tháng 11, người viết dựa vào tài liệu
giáo huấn của Giáo Hội Công giáo, xin nói qua về Lễ Các Thánh Nam
Nữ và Lễ Các Ðẳng Linh Hồn, dẫn đến một vài suy nghĩ về hiệp thông
với các Thánh và các kẻ đã qua đời.
Lễ Các Thánh Nam Nữ ( 1.11 )
Ở Hoa Kỳ, ngày 31.10 là Halloween, ngày lễ
đã bị tục hóa thành ngày có tính cách "ma quái bí ẩn", mà thật ra
tên gọi đúng là Hallowe’en, cách gọi tắt gồm nhóm từ All Hallow Even,
( All Hallow là Các Thánh; Even, Lễ Vọng ), có nghĩa "Lễ Vọng Các Thánh".
Theo Francis Mershman, qua Thánh Truyền, Lễ
Các Thánh Nam Nữ đã có từ lâu đời trong Giáo Hội do lòng mến mộ
của giáo hữu đối với các Thánh. Trong hai ba thế kỷ đầu, người
Ki-tô hữu có thói quen mừng lễ kính nhớ một vị tử đạo vào chính
ngày vị thánh ấy hy sinh mạng sống vì Chúa, tại nơi chịu chết vì đạo.
Từ thế kỷ thứ 4, khởi đầu có thể thức các giáo phận lân cận hiệp
thông với nhau về ngày lễ, rước hài cốt các thánh và mừng lễ các
nhóm tử đạo chung cùng một ngày với nhau.
Tuy vậy, Giáo Hội muốn vị thánh nào
biết rõ ngày tử đạo thì có lễ riêng, còn các vị không rõ ngày thì
lễ chung vào một ngày. Ví dụ: Có ngày lễ riêng kính Thánh Gio-an Tẩy
Giả bị xử trảm, và lễ chung kính các thánh tử đạo vào Chúa Nhật sau
Lễ Hiện Xuống. Ðến khi thể thức phong thánh được thiết lập, số các
thánh tăng thêm, và trong lịch Phụng Vụ có lễ Các Thánh Hiển Tu,
các Thánh Ẩn Tu, v.v..
Chính Ðức Gíao Hoàng Gregorio III ( 731 – 41 )
đã dành một nhà nguyện tại Vương Cung Thánh Ðường Thánh Phê-rô, ở
Rô-ma, để cung hiến kính Các Thánh Nam Nữ và đặt ngày 1.11 cố định
là Lễ Các Thánh Nam Nữ. Về sau, Ðức Gregorio IV ( 827 – 44 ) mở rộng
Lễ 1.11 cho cả Giáo Hội hoàn vũ, và Ðức Urbano IV ( 1261 – 64 ) minh
định: "Ngày Lễ Các Thánh Nam Nữ 1.11 được Giáo Hội lập ra để kính
nhớ tất cả các thánh, dù biết rõ hay không biết rõ, hầu bổ túc
các thiếu sót trong việc giáo hữu mừng kính các thánh vào các ngày
lễ trong năm phụng vụ" ( Cat.
Enc., Volume I, by Kevin Knight 1999 ).
Lễ Các Ðẳng Linh Hồn ( 2.11 )
Cũng theo
Francis Mershman, lễ tưởng nhớ các tín hữu đã qua đời được Giáo Hội
mừng vào ngày 2.11. Căn bản thần học về lễ này dựa vào niềm tin
rằng: Những ai chết trong ân sủng và trong ơn nghĩa của Thiên Chúa,
nhưng chưa được thanh tẩy cách trọn vẹn, thì tuy được bảo đảm về ơn
cứu độ muôn đời của mình, vẫn phải chịu một sự thanh luyện sau khi
chết, hòng đạt được sự thánh thiện cần thiết để bước vào niềm vui
thiên đàng.
Giáo Hội
gọi luyện ngục là sự thanh luyện sau cùng này của các người được
chọn, hoàn toàn khác với hình phạt của những kẻ bị án phạt. Khi
trình bày giáo lý của đức tin về Luyện Ngục tại Công Ðồng Florencia
và Trento, cũng như dựa vào một số bản văn Thánh Kinh ( 1 Cr 3, 15; 1
Pr 1, 7 ), Giáo Hội nói đến một thứ lửa thanh luyện như sau: "Ðối
với một số lỗi lầm nhẹ, ta phải tin có một thứ lửa thanh tẩy trước
ngày Phán Xét theo như những gì mà Ðấng là Chân Lý đã dạy .." (
Giáo Lý, 1030-1031 ).
Vào thời Giáo Hội tiên khởi, người Ki-tô
hữu có thói quen ghi tên các giáo hữu đã qua đời vào "danh sách những người đã ra đi" để tưởng nhớ và cầu nguyện cho họ. Các
Dòng Benedicto có nghi thức tưởng nhớ đến các thành viên tu sĩ đã qua
đời. Tại Tây-ban-nha, có ngày cầu cho các linh hồn vào Chúa Nhật 2
Mùa Chay, hoặc Thứ Bảy trước Lễ Hiện Xuống. Tại Ðức, từ khoảng
cuối thế kỷ 10, có lễ cầu hồn vào 1.10. Lễ này được Giáo Hội chấp
thuận.
Khởi đầu từ tu viện Cluny, năm 1080, các tu hội Benedicto
mỗi năm dành một ngày cầu cho Các Ðẳng Linh Hồn. Sau đó, lễ lan qua
Bỉ, Pháp, Ý vào ngày 15.10 và chuyển đến ngày 2.11. Riêng tại Tây-
ban-nha, Bồ-đào-nha và Mỹ La-tinh, ngày 2.11, các Linh Mục làm ba lễ.
Giáo hữu trình thỉnh nguyện thư xin tổ chức lễ cầu hồn trong Giáo Hội
hoàn vũ và Ðức Giáo Hoàng Leo XIII ( 1878 – 1903 ) ban chỉ thị làm lễ
Cầu Hồn "Requiem" cho Các Ðẳng. Trong các Giáo Hội theo nghi lễ Hy-lạp
và Acmenia cũng có ngày Lễ Cầu Hồn.
Trong kinh
Tin Kinh các Tông Ðồ, người Ki-tô hữu đọc: "Tôi tin có Hội Thánh hằng
có ở khắp thế này các Thánh thông công". Ý nghĩa câu này gồm
hai phần:
- "Hội
Thánh ở khắp thế này" đề cập đến Giáo Hội giữa trần thế, vừa
nói đến tình trạng "lữ hành" hiện nay của chúng ta sống giữa đời,
vừa nhắc đến đại gia đình Ki-tô hữu phải "hiệp thông" đoàn kết với
nhau, trong tình huynh đệ các con cái của cùng một Chúa.
- "Các Thánh thông công" nêu lên sự hiệp thông giữa ba Giáo Hội –
Giáo Hội lữ hành với Các Thánh trên trời và các kẻ đã qua đời
đang tạm thời phải thanh luyện.
"Trong khi chờ đợi Chúa sẽ đến trong quyền
uy với các thiên thần, và trong khi chờ đợi mọi sự quy phục Ngài sau
khi sự chết bị phá hủy, một số môn đệ của Chúa tiếp tục cuộc lữ
hành trên trái đất này; một số khác đang ở trong vinh quang, được
chiêm ngưỡng "Thiên Chúa độc nhất mà Ba Ngôi, trong ánh sáng huy
hoàng; một số khác, sau khi qua đời còn bị thanh luyện." ( Công
Ðồng Vaticano II, Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội Lumen
Gentium, LG, 49 )
CHIA SẺ:
HAI CON TÔM HÙM VÀ NĂM GÓI MÌ TÔM
Cũng như đại đa số các gia đình Việt Nam đang
sống trên đất Mỹ, cùng với những người dân bản xứ, ch